Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 08/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 10/02/2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đỉnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hiếu Trung
  2. Bà Phạm Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre: Ông Lê Văn Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 293/2024/TLST-HN ngày 09 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 222/2025/QĐST-HN ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Lê Thị Thanh A, sinh năm 1987 (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, ấp C, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre

Bị đơn: Nguyễn Đức T1, sinh năm 1985 (vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Lê Thị Thanh A trình bày:

Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước chị Lê Thị Thanh A và anh Nguyễn Đức T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/4/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do thường hay tranh cãi, bất đồng quan điểm sống dẫn đến không còn hạnh phúc, vợ chồng đã cố gắng để hàn gắn tình cảm để chung sống nhưng không có kết quả. Chị Lê Thị Thanh A vẫn yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Đức T1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung cháu Nguyễn Thành Phúc T, sinh ngày 09/5/2021 hiện nay cháu đang sống với chị A; chị A yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không có

Về nợ chung: không có.

Anh Nguyễn Đức T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn trong quá trình thụ lý và giải quyết thực hiện đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thanh A, Chị Lê Thị Thanh A được ly hôn với anh Nguyễn Đức T1. Về con chung: Cháu Nguyễn Thành Phúc T, sinh ngày 09/5/2021 Chị A tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành Phúc T, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung chị A trình bày không có, anh T1 không ý kiến nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:

Chị Lê Thị Thanh A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị An

Anh Nguyễn Đức Tính đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T1.

[1] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Lê Thị Thanh A và anh Lê Đức T2 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc theo chị A trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay tranh cãi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể nào hàn gắn để tiếp tục chung sống. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án chị A và anh T2 vẫn không biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng trở về chung sống, chị A vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh T2. Anh T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong hồ sơ vụ án và hòa giải nhưng anh T2 vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy anh T2 không có thiện chí đến Tòa án hòa giải để về đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị A và anh T2 không khắc phục được, mục đích hôn nhân giữa chị A, anh T2 không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thanh A là có căn cứ.

Về con chung: Cháu Nguyễn Thành Phúc T, sinh ngày 09/5/2021 Chị A tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành Phúc T, anh T2 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu cấp dưỡng

Tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị Thanh A trình bày không có tài sản chung và không có nợ ai, anh Nguyễn Đức T1 không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, chị Lê Thị Thanh A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thanh A

Chị Lê Thị Thanh A được ly hôn với anh Nguyễn Đức T1

2. Về nuôi con chung: Cháu Nguyễn Thành Phúc T, sinh ngày 09/5/2021 Chị A tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành Phúc T, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu cấp dưỡng.

3. Về chia tài sản; nợ chung: Chị Lê Thị Thanh A trình bày không có tài sản chung và không có nợ ai, anh Nguyễn Đức T1 không có ý kiến nên không xem xét. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Thanh A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị A đã nộp theo biên lai thu số 0004495 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc (2b);
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc (1b);
  • - UBND xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày Bắc (23, 19/4/2019)
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ - ST ngày 10/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị An xin ly hôn với anh Tính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger