Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10-02-2025

V/v “tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Sơn

Ông Lê Văn La

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 354/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10/01/2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1978 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã M (nay là xã T), huyện L, tỉnh Bắc Giang

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã M (nay là xã T), huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 06/01/1996, trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là xã T), huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị đi làm xa anh T nghi ngờ không tin tưởng chị nên vợ chồng xảy ra bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung anh T đã đánh đuổi chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị làm đơn xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

-Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Văn C, sinh ngày 12/01/1998 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 30/9/2002. Hiện các con khỏe mạnh, phát triển bình thường và đã trưởng thành, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị M không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị M có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.

*Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải nhưng anh T vắng mặt mà không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị M có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T không chấp hành nghiêm quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án anh T từ chối khai báo không đưa ra ý kiến quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt lần hai không có lý do.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M kết hôn với anh Nguyễn Văn T ngày 06/01/1996, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là xã T), huyện L. Kết hôn xong anh chị về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Anh chị chung sống đến khoảng tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, một phần do chị M đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về, anh T đã nghi ngờ không tin tưởng chị M nên vợ chồng xảy ra xô sát, anh T đánh đuổi chị M ra khỏi nhà, chị M về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 5/2024 đến nay, anh chị cắt đứt mọi quan hệ từ đó. Nay phía chị M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Phía anh T trong suốt quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị M.

Hội đồng xét xử xét thấy, chị M và anh T trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình; vợ chồng xảy ra mâu thuẫn xô sát và hiện tại đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân với người thân của anh T, chị M và chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú thấy, anh chị sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến khoảng tháng 5/2024 phát sinh mâu thuẫn, chị M đã về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn ở từ đó đến nay chị M đi làm xa thỉnh thoảng mới về nhà bố mẹ đẻ ở, hiện anh chị đang sống ly thân. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị M, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn T có hai con chung là Nguyễn Văn C, sinh ngày 12/01/1998 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 30/9/2002. Hiện các con của anh chị đã trưởng thành, anh chị không đề nghị gì, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị M không đề nghị giải quyết, phía anh Nguyễn Văn T không đưa ra ý kiến quan điểm, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003409 ngày 28/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003409 ngày 28/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tiên Lục;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ba fM, ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger