Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-02-2025

Về việc: “Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Hội thẩm nhân dân.

Ông Trần Văn Lành

Bà Nguyễn Ngọc Nhuận

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh.

Trong ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 175/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Trần Thị Thu V, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Bị đơn: ông Lê Thanh D, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn có mặt; Bị đơn vắng mặt không có lý do, không phải do sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, nội dung vụ kiện như sau:

Bà Trần Thị Thu V và ông Lê Thanh D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2005, bà V và ông D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 90 quyển 01 ngày 23/12/2005. Sau khi kết hôn, thời gian đầu bà V và ông D có cuộc sống hạnh phúc, nhưng đến khoản năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, ông D tính tình khó khăn, ngăn cấm bà giao tiếp với bên ngoài, kiểm soát bà V, không cho bà V đi làm hay đi đâu khiến cho vợ chồng thường xuyên cự cãi, ông D còn đánh đập bà. Hiện nay, giữa bà V và ông D vẫn còn chung sống với nhau nhưng cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà V đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa bà V và ông D có 03 (ba) con chung là cháu Lê Hữu D1, sinh ngày: 23/9/2005; cháu Lê Thị Tường V1, sinh ngày: 10/6/2009 và cháu Lê Khưu Hữu D1, sinh ngày: 29/11/2019. Đối với cháu Lê Hữu D1 nay đã trưởng thành nên bà V không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với cháu Lê Thị Tường V1 và cháu Lê Khưu Hữu D1 bà V đề nghị khi ly hôn Toà án giao 02 cháu cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, bà V không yêu cầu ông Lê Thanh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thu V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Ông Lê Thanh D không đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Thu V, đề nghị Toà án tiến hành hoà giải để ông D và bà V đoàn tụ với nhau, tiếp tục chung sống để lo cho các con. Trong trường hợp không thể hoà giải để đoàn tụ với bà Trần Thị Thu V. Khi ly hôn, ông Lê Thanh D đề nghị:

  • Về con chung: Ông D và bà Trần Thị Thu V có 03 (ba) người con chung là cháu cháu Lê Hữu D1, sinh ngày: 23/9/2005; cháu Lê Thị Tường V1, sinh ngày: 10/6/2009 và cháu Lê Khưu Hữu D1, sinh ngày: 29/11/2019. Ông Lê Thanh D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu cháu Lê Thị Tường V1 và cháu Lê Khưu Hữu D1.
  • Về tài sản chung: Giữa ông Lê Thanh D và bà Trần Thị Thu V tự giải quyết.

Tại phiên toà:

Bà Trần Thị Thu V trình bày, trước đây bà có đề nghị Toà án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An giải quyết sau khi ly hôn giao con chung là các cháu cháu Lê Thị Tường V1, sinh ngày: 10/6/2009 và cháu Lê Khưu Hữu D1, sinh ngày: 29/11/2019 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, tại phiên toà bà Trần Thị Thu V thay đổi yêu cầu, hiện nay bà đồng ý giao ông Lê Thanh D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên vì ông Lê Thanh D có chỗ ở, có công việc thường xuyên nên đảm bảo được cuộc sống cho con. Việc cấp dưỡng nuôi con bà tự giải quyết với ông D, không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hôn nhân gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn ông Lê Thanh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ điều kiện xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa: tại đơn khởi kiện và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Thu V đề nghị Toà án giải quyết sau khi ly hôn giao con chung là các cháu Lê Thị Tường V1, sinh ngày: 10/6/2009 và cháu Lê Khưu Hữu D1, sinh ngày: 29/11/2019 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên toà nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện ban đầu, bà đồng ý giao con chung chưa thành niên cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 244 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân:

Bà Trần Thị Thu V và ông Lê Thanh D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 23/12/2005 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 90 quyển số 01 nên quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị Thu V và ông Lê Thanh D là hôn nhân hợp pháp.

Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, bà V trình bày thời gian sau khi kết hôn, thời gian đầu giữa bà Trần Thị Thu V và ông Lê Thanh D có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến nay giữa bà V và ông D bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông D vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. tính tình khó khăn, ngăn cấm bà giao tiếp với bên ngoài, kiểm soát bà V khiến cho vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Hiện nay, tuy bà Trần Thị Thu V và ông Lê Thanh D vẫn còn chung sống nhưng cuộc sống không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà V xác định đã suy nghĩ kỹ và cương quyết xin được ly hôn với ông D.

Tại bản tự khai của ông Lê Thanh D trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện ông Lê Thanh D không mong muốn ly hôn với bà Trần Thị Thu V, đề nghị Toà án nhân dân huyện Tân Thạnh tiến hành hoà giải để ông Lê Thanh D và bà Trần Thị Thu V đoàn tụ, tiếp tục chung sống với nhau để lo cho các con. Ngày 04/12/2024, Toà án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An đã tiến hành hoà giải với sự có mặt của cả ông Lê Thanh D và bà Trần Thị Thu V nhưng kết quả hoà giải không thành. Toà án đã cho thời gian để bà V và ông D xác định lại tình cảm, để ông D có thời gian, cơ hội để có giải pháp giúp bà V thay đổi quan điểm, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, sau khi mở phiên hoà giải lại ông D vắng mặt nên Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Ông Lê Thanh D đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông Lê Thanh D vẫn vắng mặt mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, điều này thể hiện ông Lê Thanh D không còn mong muốn đoàn tụ, để mặc cho bà Trần Thị Thu V đề nghị Toà án giải quyết ly hôn. Trong khi đó, bà V vẫn cương quyết xin ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy bà V và ông D đã mâu thuẫn đã lâu, hai bên đương sự không còn mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Hiện nay bà V vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn với ông D. Do đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn bà V và ông D đã đã đến mức trầm trọng, tình cảm giữa vợ và chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thu V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Trong thời gian chung sống với nhau, giữa bà V và ông D có 03 (ba) con chung là cháu Lê Hữu D1, sinh ngày: 23/9/2005; cháu Lê Thị Tường V1, sinh ngày: 10/6/2009 và cháu Lê Khưu Hữu D1, sinh ngày: 29/11/2019. Đối với cháu Lê Hữu D1 đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu Lê Thị Tường V1 cháu Lê Khưu Hữu D1, hiện chưa thành niên, bà V đồng ý giao cho ông Lê Thanh D trực tiếp nuôi dưỡng do ông D có nhà riêng, có ruộg đất và có nghề nghiệp đảm bảo chăm lo cho con. Hội đồng xét xử xét thấy cả hai cháu Lê Thị Tường V1 và cháu Lê Khưu Hữu D1 đều đang sinh sống với ông Lê Thanh D, cháu V1 trên 07 tuổi nên đã có văn bản thể hiện ý kiến muống sống với cha khi cha mẹ ly hôn. Đồng thời, ông D có đầy đủ điều kiện về chổ ở, thu nhập để chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà V cũng như ý kiến của ông D trong trường hợp Toà án giải quyết cho ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung chưa thành niên là cháu Lê Thị Tường V1, sinh ngày: 10/6/2009 và cháu Lê Khưu Hữu D1 cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng: do bà Trần Thị Thu V và ông Lê Thanh D đều không yêu cầu nên Toà án không đề cập.

Bà Trần Thị Thu V được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập. Ông D không có đơn yêu cầu phản tố đề nghị Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không có cơ sở để giải quyết. Trong trường hợp giữa ông D và bà V có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết trong một vụ án khác.

[3] Về án phí: bà Trần Thị Thu V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn được chấp nhận theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 200, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu V: bà Trần Thị Thu V được ly hôn với ông Lê Thanh D.
  2. Về con chung:

    Ông Lê Thanh D được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu Lê Thị Tường V1, sinh ngày: 10/6/2009 và cháu Lê Khưu Hữu D1, sinh ngày: 29/11/2019.

    Sau khi ly hôn, bà Trần Thị Thu V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

    Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bà Trần Thị Thu V, ông Lê Thanh D, người thân thích của cháu Lê Thị Tường V1, cháu Lê Khưu Hữu D1 hoặc Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: bà Trần Thị Thu V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Chuyển 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị Thu V2 đã nộp theo biên lai thu số 0003154 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang thành án phí.
  4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Tân Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • - UBND cấp xã nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thu V-Lê Thanh D "Ly hôn"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger