|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05-02-2025
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- bà Trần Thị Mộng Thu
- Bà Nguyễn Thị Di.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 341/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1995; (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: B, tổ A, ấp P, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Phạm Minh T, sinh năm 1992; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ C, ấp P, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/11/2024; bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày:
Về hôn nhân: Bà Á và ông T có tìm hiểu thấy tình cảm hai người thương yêu nhau nên tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2013. Có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 13/9/2013 tại UBND xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ tổ C, ấp P, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, không chia sẻ, đồng cảm với nhau và sống ly thân từ đó đến nay.
Nay, nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau như trước nên bà Á yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T để cả hai có cơ hội xây dựng cuộc sống mới.
Về con chung: Bà Á xác nhận có 01 con chung là Phạm Thái T1, sinh ngày 03/3/2014. Bà Á yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Á không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Phạm Minh T:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến Tòa án tham gia giải quyết. Tòa án cũng không nhận được văn bản ý kiến hay bản tự khai của ông T.
Tại phiên tòa:
Bà Á có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Á đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông T vắng mặt trong quá trình tố tụng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Á.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á yêu cầu ly hôn với ông Phạm Minh T nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”; bị đơn ông T có địa chỉ cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bà Á có đơn xin xét xử vắng mặt; ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Á và ông T có tìm hiểu thấy tình cảm hai người thương yêu nhau nên tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2013. Có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 13/9/2013 tại UBND xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ tổ C, ấp P, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, không chia sẻ, đồng cảm với nhau và sống ly thân từ đó đến nay.
Nay, nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau như trước nên bà Á yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T để cả hai có cơ hội xây dựng cuộc sống mới.
Kết quả xác minh cho thấy: Bà Á và ông T kết hôn năm 2013 và chung sống với nhau tại số tổ 30, ấp P, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn.
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy bản thân ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc đời sống hôn nhân.
Từ những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; thực tế xác minh tại địa phương cho thấy mâu thuẫn giữa bà Á và ông T là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, ông bà đã thực sự không còn tình cảm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Á đối với ông T.
[2.2] Về con chung: Bà Á và ông T có 01 con chung là Phạm Thái T1, sinh ngày 03/03/2014. Ly hôn bà Á yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Từ khi hai vợ chồng ly thân năm 2017 cho đến nay, cháu T1 vẫn ở với mẹ, được mẹ nuôi dưỡng. Để tránh xáo trộn trong sinh hoạt, tâm lý, học tập của cháu. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Á giao cháu T1 cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Á không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về chia tài sản: Bà Á không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Á là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ngọc Á ly hôn ông Phạm Minh T.
- Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc Á, giao cháu Phạm Thái T1 sinh ngày 03/3/2014 cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Bà Á không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Á đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003825, ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Á đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bình |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về ly hôn
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
