TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HSST
Ngày: 23 - 01 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Dung
2. Bà Nông Thị Giới
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thiên Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Mai Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXX - ST, ngày 09/01/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên bị cáo thứ nhất: Phạm Hoàng Vĩ T, sinh năm 1999, tại tỉnh Bình phước. Tên gọi khác: D1; Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, ấp Q, xã T, huyện H, tỉnh Bình phước; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12, nghề nghiệp: Không; Tiền án, tiền sự: Không. Cha của bị cáo tên Hoàng Anh D (đã chết) và mẹ của bị cáo tên Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1975; Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, ấp Q, xã T, huyện H, tỉnh Bình phước. Ngày 25/5/2024, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và tạm giữ hình sự. Đến ngày 02/6/2024 bị khởi tố bị can, chuyển tạm giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Về nhân thân: Phạm Hoàng Vĩ T bị xử phạt 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, về hành vi “Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP của Chính Phủ và 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 4281/QĐ-XPVPHC ngày 06/8/2021 của Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước nhưng chưa chấp hành. Ngày 21/12/2024, bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã tiếp tục tạm giam để truy tố; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên bị cáo thứ hai: Trần Phạm Thanh B, sinh năm 2005, tại tỉnh Bình phước. Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: Tổ H, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình phước. Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án, tiền sự: Không. Cha của bị cáo tên Trần Hoài L, sinh năm 1976 và mẹ của bị cáo tên Phạm Thị T1, sinh 1980; Nơi đăng ký thường trú: Tổ H, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình phước. Ngày 05/9/2024, bị khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh về tội Không tố giác tội phạm. Ngày 21/12/2024, bị Viện Kiểm sát nhân dân thị xã tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh để truy tố. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị Mộng T2, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 06, ấp Quản Lợi A, xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
4. Người làm chứng:
- 4.1. Anh Cao Bảo T3, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ B, khu phố X, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước
- 4.2. Anh Phạm Đình T4, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ F, ấp Q, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước
- 4.3. Anh Trần Đình T5, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ I, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước
- 4.4. Anh Dương Văn T6, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ F, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước
- 4.5. Anh Đặng Ngọc M, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ 03, ấp Quản Lợi A, xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
5. Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1962 (Vắng mặt)
Đăng ký thường trú và nơi ở: Tổ B, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B phối hợp với Công an phường P kiểm tra căn nhà thuộc tổ B, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước do Phạm Hoàng Vĩ T (D1) thuê, thấy có T và Hồ Việt H1 (T) đang ở trước hiên nhà còn Trần Phạm Thanh B đang ở trong phòng thứ 02, phát hiện trong nắp chai bằng nhựa màu đen của 01 bình hình trụ tròn bằng kim loại ghi chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm để trong đống vỏ ve chai dưới trụ sắt cổng sát hàng rào phía bên phải của hiên nhà có 07 gói ny lon (ký hiệu M) gồm: 01 gói nylon trong suốt dạng hình chữ nhật hàn kín, kích thước 3,6 x 1,9 cm, chứa chất tinh thể màu trắng dạng rắn; 01gói nylon trong suốt dạng hình chữ nhật hàn kín, kích thước 2,6 x 1,2 cm, chứa chất tinh thể màu trắng dạng rắn; 05 gói nylon trong suốt dạng hình chữ nhật hàn kín, cùng kích thước (3,0 x 1,2) cm, đều chứa chất tinh thể màu trắng dạng rắn. Bên trong lỗ thứ 02 dưới nền sân xi măng phía trước hiên nhà, sát tường xây phía bên trái có 01 gói nylon dạng hình chữ nhật, miệng khóa miết, kích thước 05x 04 cm chứa chất tinh thể màu trắng dạng rắn (ký hiệu M1). Trên nền hiên nhà cạnh sát tường phía bên trái có 01 cân điện tử bằng kim loại dạng hình chữ nhật màu trắng - đen, kích thước (6,5 x 3,4 x 1,3) cm đang hoạt động (ký hiệu M2). Bên trong rổ bằng nhựa màu xanh treo trên hàng rào, phía bên phải của tường nhà có 01 ống thủy tinh được uốn cong, chiều dài 13,4 cm, có 01 phần đầu ống phình ra dạng hình cầu, bên trong phần đầu phình ra dạng hình cầu có chứa chất rắn màu nâu (ký hiệu M3).
Trên kệ gỗ trong phòng thứ nhất có: 02 bình gaz mini, trong đó có 01 bình gaz gắn đầu khò bằng kim loại; 01 hộp bằng giấy chứa 24 ống thủy tinh, có cùng chiều dài 20,2 cm; 01 chai nhựa có chữ “STING”, chiều cao 23 cm, có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu đen, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong, có 01 đầu phình ra dạng hình cầu, chiều dài 14,4 cm, bên trong phần đầu dạng hình cầu có chứa chất rắn nâu (ký hiệu M4); 01 cái kéo bằng kim loại, kích thước 10,3 x 5,6 cm. Trên nền trong phòng thứ nhất, có: 01 bật lửa gaz màu trắng có chữ “HOA VIỆT” (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 bật lửa gaz màu trắng, có chữ “HOA VIỆT” (không có nắp bảo vệ); 01 bật lửa gaz màu trắng (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 ống hút bằng nhựa màu đen, dài 19,6 cm, có 01 đầu ống được vát nhọn; 01 chai hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm, nắp chai bằng nhựa hình trụ tròn màu đen, bên trong phần nắp có 04 gói nylon trong suốt, dạng hình chữ nhật, 01 đầu hở, kích thước lần lượt từng gói: (3,2 x 1,5) cm; (3,0 x 1,2) cm; (3,0 x 1,2) cm, (2,6 x 1,2) cm.
Phạm Hoàng Vĩ T thừa nhận các gói ny lon (ký hiệu M, M1) và chất bám dính trong 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (ký hiệu M3, M4) là ma túy đá của T nên Cơ quan điều tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng thu giữ theo quy định. Cơ quan điều tra lập biên bản thu giữ: 10 sợi tóc có chân tóc nhổ trên đỉnh đầu của Phạm Hoàng Vĩ T, niêm phong theo quy định (ký hiệu M5); 10 sợi tóc có chân tóc nhổ trên đỉnh đầu của Hồ Việt H1, niêm phong theo quy định (ký hiệu M6); 10 sợi tóc có chân tóc nhổ trên đỉnh đầu của Trần Phạm Thanh B, niêm phong theo quy định (ký hiệu M7).
Kết quả test nước tiểu của Phạm Hoàng Vĩ T, Trần Phạm Thanh B, ngày 25/5/2024 dương tính với ma túy, đối với Hồ Việt H1 là âm tính với ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 531/KL - KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: “Tinh thể màu trắng (ký hiệu M và M1), bên trong các gói nylon được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M = 1,4576 gam (Một phẩy bốn nghìn năm trăm bảy sáu gam); M1 = 2,2847 gam (Hai phẩy hai tám bốn bảy gam); Chất rắn màu nâu (ký hiệu M3 và M4) bên trong hai ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M3 = 0,0221 gam (Không phẩy không hai hai một gam); M4 = 0,0578 gam (Không phẩy không năm bảy tám gam).
Tại Kết luận giám định ADN số 332/24/KLGÐADN-PYQG ngày 05/6/2024 của V kết luận: “-Không thu được dữ liệu ADN đầy đủ từ mẫu vật cần giám định ký hiệu mã số PS2 1906135 (bình hình trụ tròn bằng kim loại màu đen; 07 gói nilon trong suốt) và mẫu vật cần giám định ký hiệu M2 nên không thể so sánh với ADN của Phạm Hoàng Vĩ T (ký hiệu M5); Hồ Việt H1 (ký hiệu M6); Trần Phạm Thanh B (kí hiệu M7).
- ADN thu từ mẫu vật cần giám định ký hiệu mã số PS2 1906135 (01 túi nilon trong suốt, miệng khóa miết) trùng khớp hoàn toàn với ADN của Phạm Hoàng Vĩ T (ký hiệu M5) trên tất cả các locus STR đã so sánh”.
Hiện chứng minh được Phạm Hoàng Vĩ T và Trần Phạm Thanh B chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 12/2023 trong căn nhà do T thuê tại tổ B, khu phố P, phường P, thị xã B. Quá trình sống chung B biết T thường xuyên mua ma túy về phân ra thành nhiều gói nhỏ rồi để trong chai hoặc gói trong khẩu trang y tế ... giấu ở đống ve chai trước hiên nhà và bán cho nhiều người.
Phạm Hoàng Vĩ T nhiều lần bán ma túy, cụ thể như sau: Bán cho Cao Bảo T3 02 lần:
Lần thứ nhất: Tối ngày 01/01/2024, Cao Bảo T3 gọi từ messenger “Bao Trung” đến messenger “Hoang Dương” cho T (D1) hỏi mua 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng ma túy đá, sau đó T giao ma túy cho T3 tại nơi ở của T3 thuộc tổ I, ấp T, xã T, thị xã B. T3 trả cho T 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 03/01/2024, T3 tiếp tục gọi qua messenger cho T hỏi mua 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng ma túy đá. Tường giao ma túy cho T3 trên đường Q thuộc khu vực ấp S, xã T, thị xã B. T3 trả cho T11 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng.
- Bán cho Đặng Ngọc M 02 lần:
Lần thứ nhất: Tối ngày 09/5/2024, Đặng Ngọc M đến nơi ở của Phạm Hoàng Vĩ T hỏi mua ma túy. T giao cho M 01 gói ma túy, M trả cho T 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Lần thứ hai: Tối ngày 11/5/2024, M tiếp tục đến nơi ở của T hỏi mua ma túy đá. T giao cho M 01 gói ma túy và M sử dụng tài khoản Momo số 0869134145 chuyển 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng vào tài khoản số 0972833732 ngân hàng Q (MB) cho T. Lúc này Trần Phạm Thanh B nhìn thấy nên một lúc sau B sử dụng messenger “Trần Thanh B” nhắn đến messenger “Nhè Qúa Ta” cho M với nội dung “R làm gì có tiền lấy đồ, K biết trả e hả”, có nghĩa là B nhắn tin nói với M có tiền mua ma túy nhưng không trả tiền nợ cho B. M đọc được tin nên gửi lại cho B đoạn ghi âm 16 giây “Địt mẹ mày tao nói thiệt với mày đó B tao lấy đụ má người ta tám trăm một góc tư, tao tưởng thằng D1 đưa tao mươi hai số, tao được hai số chơi, đưa mười số tao đưa người ta luôn, tao được cái gì”, có nghĩa là M mua 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng ma túy của T, M nghĩ T sẽ bán cho M 12 số ma túy đá nhưng T chỉ bán 10 số nên M nhắn tin chửi B, giải thích việc mua ma túy của T được ít và giao cho ai hết nên không có đề sử dụng.
Bán cho Phạm Đình T4, 02 lần: Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 19/5/2024, Phạm Đình T4 sử dụng Zalo “Phạm Thương” gọi đến zalo “Hoàng D1” cho T hỏi mua 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy đá. T giao ma túy cho T4 tại nơi ở của T. T4 sử dụng tài khoản MoMo của Thương số 0964508264 chuyển 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng đến tài khoản MoMo số 0353.000739 của T trả tiền mua ma túy rồi đem ma túy về sử dụng hết.
Lần thứ hai: Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, T4 tiếp tục sử dụng zalo gọi cho T hỏi mua 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy đá và đến nơi ở của T nhận ma túy. Thương chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng từ tài khoản Momo của T4 đến tài khoản MoMo của T trả tiền mua ma túy rồi T4 đem ma túy về và sử dụng hết.
-Bán cho Dương Văn T6, 02 lần: Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 24/5/2024, Dương Văn T6 sử dụng Z “T6” gọi đến zalo “Dương S” cho Phạm Hoàng Vĩ T để hỏi mua 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng ma túy đá. T đồng ý và hẹn gặp T6 trên đường quốc lộc 13, khu vực nghĩa địa ấp S, xã T, thị xã B giao ma túy. T6 sử dụng tài khoản số 5603205095790, Ngân hàng A của T6 chuyển 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng vào tài khoản số 0972833732, Ngân hàng M1 của T trả tiền mua ma túy rồi T6 sử dụng hết.
Lần thứ hai: Đến khoảng 09 giờ 30 ngày 25/5/2024, T6 tiếp tục sử dụng Z gọi cho T hỏi mua 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy đá. T giao ma túy cho T6 trước quán C1 trên đường N (quốc lộ A đoạn qua trung tâm thị xã B) thuộc phường P, thị xã B. T6 sử dụng tài khoản số 5603205095790 chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng vào tài khoản số 0972833732 của T để trả tiền mua ma túy. T6 sử dụng hết ma túy mua được.
- Bán cho Trần Đình T5: Khoảng 12 giờ ngày 24/5/2024, Trần Đình T5 sử dụng số điện thoại 0705.037.xxx gọi đến số 0876.339639 cho Phạm Hoàng Vĩ T để mua 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy đá. T giao ma túy cho T5 tại nơi ở của T. T5 sử dụng tài khoản số 3070172766564, Ngân hàng M1 của T5 chuyển 299.000 (Hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng đến tài khoản số 0972833732, Ngân hàng M1 của T để trả tiền mua ma túy do tài khoản của T5 không đủ tiền nên chuyển khoản thiếu 1.000 (Một nghìn) đồng. T5 đem ma túy về nhà và sử dụng hết.
Ngoài ra Phạm Hoàng Vĩ T nhiều lần bán ma túy cho người tên facebook “Văn Nam” nhà ở khu vực ấp N, xã T và nhiều lần bán ma túy cho người tên facebook và zalo “Đảnh Xét”. Do B xem messerger trên điện thoại của T thể hiện tin nhắn trao đổi mua bán ma túy nên biết T bán ma túy cho “Đảnh Xét”. Lúc bị phát hiện bắt quả tang Phạm Hoàng Vĩ T chỉ khai nhận cất giấu ma túy để sử dụng cho bản thân. Từ khi bị khởi tố bị can và trong suốt quá trình điều tra, truy tố Phạm Hoàng Vỹ T8 đã khai nhận rõ việc bán ma túy cho nhiều người. Trần Phạm Thanh B khai nhận do sinh sống như vợ chồng cùng nhà với T8 nên biết Phạm Hoàng Vỹ T8 mua bán trái phép chất ma túy cho nhiều người
Vật chứng của vụ án: Chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long để phục vụ việc xét xử đối với: 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M) có khối lượng 1,1908 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M1) có khối lượng 1,8636 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 bình hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm, có nắp chai bằng nhựa màu đen; 01 cân điện tử bằng kim loại dạng hình chữ nhật màu trắng - đen, có nắp bằng nhựa màu đen, kích thước (6,5 x 3,4 x 1,3) cm, hoạt động bình thường; 01 ống thủy tinh được uốn cong, dài 13,4 cm, có một phần đầu ống phình ra dạng hình cầu, bên trong phần ống phình ra dạng hình cầu có chứa chất rắn màu nâu; 02 bình gaz mini trong đó có một bình ga gắn đầu khò bằng kim loại; 24 ống thủy tinh, có cùng chiều dài 20,2 cm; 01 chai nhựa có chữ “STING”, chiều cao 23 cm, có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu đen, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong, có một đầu phình ra dạng hình cầu, bên trong phần đầu dạng hình cầu có chứa chất rắn nâu; 01 cái kéo bằng kim loại, kích thước (10,3 x 5,6) cm; 01 bật lửa gaz màu trắng có chữ “HOA VIỆT”, (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 bật lửa gaz màu trắng, có chữ “HOA VIỆT” (không có nắp bảo vệ); 01 bật lửa gaz màu trắng (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 ống hút bằng nhựa màu đen, dài 19,6 cm, có một đầu ống được vát nhọn; 01 chai hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm, nắp chai bằng nhựa hình trụ tròn màu đen, bên trong phần nắp có 04 gói nylon trong suốt, dạng hình chữ nhật, 01 đầu hở, kích thước lần lượt từng gói: (3,2 x 1,5) cm; (3,0 x 1,2) cm; (3,0 x 1,2) cm, (2,6 x 1,2) cm; 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng, gắn số sim 0876.339639 tạm giữ của Phạm Hoàng Vĩ T trong lúc bắt người phạm tội quả tang. T sử dụng điện thoại và sim để liên lạc vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy; 01 điện thoại SAMSUNG Galaxy J7 màu trắng, không gắn sim tạm giữ của Trần Phạm Thanh B trong lúc bắt người phạm tội quả tang. B dùng liên lạc với Đặng Ngọc M về việc M mua ma túy của T.
Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKS - HS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Phạm Thanh B về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa, giữ quyền công tố, giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Phạm Hoàng Vĩ T mức án từ 7 (B) năm 6 (S1) tháng đến 8 (T9) năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Phạm Thanh B phạm tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 của Bộ luật hình sự, năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 390, Điều 36, Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Trần Phạm Thanh B mức từ 1 (Một) năm đến 1 (Một) năm 6 (S1) tháng “Cãi tạo không giam giữ”.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy: Đối với: 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M) có khối lượng 1,1908 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M1) có khối lượng 1,8636 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 bình hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm; có nắp chai bằng nhựa màu đen; 01 cân điện tử bằng kim loại dạng hình chữ nhật màu trắng - đen, có nắp bằng nhựa màu đen, kích thước (6,5 x 3,4 x 1,3) cm, hoạt động bình thường; 01 ống thủy tinh được uốn cong, dài 13,4 cm, có một phần đầu ống phình ra dạng hình cầu, bên trong phần ống phình ra dạng hình cầu có chứa chất rắn màu nâu; 02 bình gaz mini trong đó có một bình ga gắn đầu khò bằng kim loại; 24 ống thủy tinh, có cùng chiều dài 20,2 cm; 01 chai nhựa có chữ “STING”, chiều cao 23 cm, có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu đen, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong, có một đầu phình ra dạng hình cầu, bên trong phần đầu dạng hình cầu có chứa chất rắn nâu; 01 cái kéo bằng kim loại, kích thước (10,3 x 5,6) cm; 01 bật lửa gaz màu trắng có chữ “HOA VIỆT”, (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 bật lửa gaz màu trắng, có chữ “HOA VIỆT” (không có nắp bảo vệ); 01 bật lửa gaz màu trắng (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 ống hút bằng nhựa màu đen, dài 19,6 cm, có một đầu ống được vát nhọn; 01 chai hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm, nắp chai bằng nhựa hình trụ tròn màu đen, bên trong phần nắp có 04 gói nylon trong suốt, dạng hình chữ nhật, 01 đầu hở, kích thước lần lượt từng gói: (3,2 x 1,5) cm; (3,0 x 1,2) cm; (3,0 x 1,2) cm, (2,6 x 1,2) cm.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng, gắn số sim 0876.339639 tạm giữ của Phạm Hoàng Vĩ T trong lúc bắt người phạm tội quả tang. T sử dụng điện thoại và sim để liên lạc vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy; 01 điện thoại SAMSUNG Galaxy J7 màu trắng, không gắn sim tạm giữ của Trần Phạm Thanh B trong lúc bắt người phạm tội quả tang. B dùng liên lạc với Đặng Ngọc M về việc M mua ma túy của T.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T đã khai nhận toàn bộ hành vi Phạm Hoàng Vĩ T nhiều lần bán ma túy, bán cho nhiều đối tượng cụ thể như sau: Ngày 01/01/2024 bán cho Cao Bảo T3 gọi từ messenger “Bao Trung” 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng ma túy đá, thuộc tổ I, ấp T, xã T, thị xã B. T3 trả cho T 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng. Khoảng 20 giờ ngày 03/01/2024, T bán cho T3 800.000 (T9 trăm nghìn) đồng ma túy đá giao ma túy cho T3 trên đường Q thuộc khu vực ấp S, xã T, thị xã B. Tối ngày 09/5/2024 bị cáo T bán cho Đặng Ngọc M 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy đá và vào Tối ngày 11/5/2024, T bán cho M 800.000 (T9 trăm nghìn) đồng 01 gói ma túy đá. Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 19/5/2024 bị cáo T bán cho Phạm Đình T4 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy đá. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, T bán cho T4 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy đá và khoảng 23 giờ, 00 phút ngày 24/5/2024 bị cáo T bán cho Dương Văn T6 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng ma túy đá. Đến khoảng 09 giờ 30 ngày 25/5/2024, T tiếp tục bán cho T6 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy đá. Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 24/5/2024 T bán cho Trần Đình T5 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ma túy đá. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, trong vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Phạm Thanh B khai biết rõ việc bị cáo T nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nhưng không tố giác hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại bản Kết luận giám định số 531/KL - KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: “- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M và M1), bên trong các gói nylon được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M = 1,4576 gam (Một phẩy bốn năm bẩy sáu gam); M1 = 2,2847 gam (Hai phẩy hai tám bốn bảy gam); Chất rắn màu nâu (ký hiệu M3 và M4) bên trong hai ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M3 = 0,0221 gam (Không phẩy không hai hai một gam); M4 = 0,0578 gam (Không phẩy không năm bảy tám gam). Số ma túy trên Công an thị xã B thu giữ tại căn nhà thuộc tổ B, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước do Phạm Hoàng Vĩ T (D1) thuê.
Bản cáo trạng số 02/CT-VKS - HS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, truy tố bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, truy tố bị cáo Trần Phạm Thanh B về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo thành khẩn khai báo nhận ra lỗi lầm, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp để chấp hành tốt mong sớm được đoàn tụ cùng gia đình và các bị cáo hứa không tái phạm.
[2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T gây ra thuộc trường hợp rất nguy hại cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước về chất ma túy, chỉ vì ham chơi bị cáo đã lao vào con đường tội ác, hậu quả để lại không chỉ cho bản thân người sử dụng ma túy mà huệ lụy cho toàn xã hội là rất nặng nề, ảnh hưởng xấu đến tình hình chung của xã hội, gây hoang mang trong nhân dân. Vì vậy cần phải có một mức phạt nghiêm khắc nhằm răn đe đối với bị cáo đồng thời giáo dục, phòng ngừa chung. Cần phải cách ly bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, rèn luyện trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm cho một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu cũng để thể hiện tính nhân đạo và hướng thiện của pháp luật.
Bị cáo B trong thời gian đầu năm 2024 có sống chung như vợ chồng với bị cáo T, bị cáo B biết rõ bị cáo T mua bán trái phép chất ma túy cho nhiều đối thượng nhưng không tố giác hành vi của T, bị cáo Trần Phạm Thanh B một phần lo sợ, phần thiếu hiểu biết về ma túy. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm cho một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu cũng để thể hiện tính nhân đạo và hướng thiện của pháp luật. Hiện nay bị cáo B đang theo học tại trường C2 nay là trường Cao Đẳng M2, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo B có cơ hội tự sửa chữa bản thận, tự rèn luyện, học tập để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, xử phạt bị cáo B hình phạt “Cãi tạo không giam giữ” đồng thời giao bị cáo Trần Phạm Thanh B về cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình phước, giám sát, giáo dục. Ông Trần Hoài L và bà Phạm Thị T1 là cha và mẹ của bị cáo B phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình phước, trong việc giám sát, giáo dục bị cáo B theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp.
Do hoàn cảnh của bị cáo Trần Phạm Thanh B hiện tại đang là sinh viên học tại trường Cao đẳng M2 nên không có thu nhập, Hội đồng xét xử xét thấy miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo B theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát đề xuất mức án đối với các bị cáo là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M) có khối lượng 1,1908 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M1) có khối lượng 1,8636 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 bình hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm; có nắp chai bằng nhựa màu đen; 01 cân điện tử bằng kim loại dạng hình chữ nhật màu trắng - đen, có nắp bằng nhựa màu đen, kích thước (6,5 x 3,4 x 1,3) cm, hoạt động bình thường; 01 ống thủy tinh được uốn cong, dài 13,4 cm, có một phần đầu ống phình ra dạng hình cầu, bên trong phần ống phình ra dạng hình cầu có chứa chất rắn màu nâu; 02 bình gaz mini trong đó có một bình ga gắn đầu khò bằng kim loại; 24 ống thủy tinh, có cùng chiều dài 20,2 cm; 01 chai nhựa có chữ “STING”, chiều cao 23 cm, có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu đen, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong, có một đầu phình ra dạng hình cầu, bên trong phần đầu dạng hình cầu có chứa chất rắn nâu; 01 cái kéo bằng kim loại, kích thước (10,3 x 5,6) cm; 01 bật lửa gaz màu trắng có chữ “HOA VIỆT”, (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 bật lửa gaz màu trắng, có chữ “HOA VIỆT” (không có nắp bảo vệ); 01 bật lửa gaz màu trắng (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 ống hút bằng nhựa màu đen, dài 19,6 cm, có một đầu ống được vát nhọn; 01 chai hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm, nắp chai bằng nhựa hình trụ tròn màu đen, bên trong phần nắp có 04 gói nylon trong suốt, dạng hình chữ nhật, 01 đầu hở, kích thước lần lượt từng gói: (3,2 x 1,5) cm; (3,0 x 1,2) cm; (3,0 x 1,2) cm, (2,6 x 1,2) cm; 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng, gắn số sim 0876.339639 tạm giữ của Phạm Hoàng Vĩ T trong lúc bắt người phạm tội quả tang. T sử dụng điện thoại và sim để liên lạc vào mục đích mua bán trái phép chất ma túy; 01 điện thoại SAMSUNG Galaxy J7 màu trắng, không gắn sim tạm giữ của Trần Phạm Thanh B trong lúc bắt người phạm tội quả tang. B dùng liên lạc với Đặng Ngọc M về việc M mua ma túy của T. Cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 điện thoại SAMSUNG Galaxy J7 màu trắng, không gắn sim tạm giữ của Trần Phạm Thanh B trong lúc bắt người phạm tội quả tang. B dùng liên lạc với Đặng Ngọc M về việc M mua ma túy của T, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, và bị cáo Trần Phạm Thanh B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Phạm Thanh B phạm tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 của Bộ luật hình sự, năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- 2.1 Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Phạm Hoàng Vĩ T 8 (T9) năm tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 25/5/2024).
- 2.2 Căn cứ vào khoản 1 Điều 390, Điều 36, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Trần Phạm Thanh B 12 (Mười hai) tháng cãi tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Phạm Thanh B về cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình phước, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành bản án.
Ông Trần Hoài L và bà Phạm Thị T1 là cha và mẹ của bị cáo Trần Phạm Thanh B phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình phước, trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Trần Phạm Thanh B trong thời gian chấp hành bản án.
Do hoàn cảnh của bị cáo Trần Phạm Thanh B hiện tại đang là sinh viên học tại trường Cao đẳng M2 nên không có thu nhập, nên được miễn khấu trừ thu nhập.
- Vật chứng của vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- 3.1 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng, gắn số sim 0876.339639 tạm giữ của Phạm Hoàng Vĩ T trong lúc bắt người phạm tội quả tang và 01 điện thoại SAMSUNG Galaxy J7 màu trắng, không gắn sim tạm giữ của Trần Phạm Thanh B trong lúc bắt người phạm tội quả tang.
- 3.2 Tịch thu tiêu hủy: Đối với 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M) có khối lượng 1,1908 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (ký hiệu M1) có khối lượng 1,8636 gam Methamphetamine, được cho vào 01 gói nylon miệng có khóa miết là chất ma túy cấm lưu hành; 01 bình hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm; có nắp chai bằng nhựa màu đen; 01 cân điện tử bằng kim loại dạng hình chữ nhật màu trắng - đen, có nắp bằng nhựa màu đen, kích thước (6,5 x 3,4 x 1,3) cm, hoạt động bình thường; 01 ống thủy tinh được uốn cong, dài 13,4 cm, có một phần đầu ống phình ra dạng hình cầu, bên trong phần ống phình ra dạng hình cầu có chứa chất rắn màu nâu; 02 bình gaz mini trong đó có một bình ga gắn đầu khò bằng kim loại; 24 ống thủy tinh, có cùng chiều dài 20,2 cm; 01 chai nhựa có chữ “STING”, chiều cao 23 cm, có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu đen, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong, có một đầu phình ra dạng hình cầu, bên trong phần đầu dạng hình cầu có chứa chất rắn nâu; 01 cái kéo bằng kim loại, kích thước (10,3 x 5,6) cm; 01 bật lửa gaz màu trắng có chữ “HOA VIỆT”, (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 bật lửa gaz màu trắng, có chữ “HOA VIỆT” (không có nắp bảo vệ); 01 bật lửa gaz màu trắng (có nắp bảo vệ bằng kim loại); 01 ống hút bằng nhựa màu đen, dài 19,6 cm, có một đầu ống được vát nhọn; 01 chai hình trụ tròn bằng kim loại màu đen có chữ “BLUESKY”, chiều cao 19,9 cm, đường kính 5,3 cm, nắp chai bằng nhựa hình trụ tròn màu đen, bên trong phần nắp có 04 gói nylon trong suốt, dạng hình chữ nhật, 01 đầu hở, kích thước lần lượt từng gói: (3,2 x 1,5) cm; (3,0 x 1,2) cm; (3,0 x 1,2) cm, (2,6 x 1,2) cm.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ – VKS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long).
- Về Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Phạm Hoàng Vĩ T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, bị cáo Trần Phạm Thanh B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
- 5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Tùng |
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Nông Thị Giới Vũ Thị Dung | Lê Đình Tùng |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 06/2024/QÐST - T12, ngaøy 10 tháng 5 năm 2024
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình T10
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị D2
2. Bà Nông Thị G
.- Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Biên bản nghị án ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm cho công tác thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Tạm giam Lê Văn T11, sinh năm 2006, tại tỉnh Bình Phước. Tên gọi khác: Trường Hâm; Nơi đăng ký thường trú: Tổ G, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 2 (Hai) năm 6 (S1) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2024.
Điều 2. Cơ sở giam giữ, Nhà tạm giữ Công an thị xã B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Đình Tùng |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 07/2024/QÐST - T12, ngaøy 10 tháng 5 năm 2024
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình T10
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị D2
2. Bà Nông Thị G
.- Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Biên bản nghị án ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm cho công tác thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Tạm giam Điểu N, sinh năm 2005; tại tỉnh Bình Phước. Tên gọi khác: Đen; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, ấp P, xã T, thị xã B. tỉnh Bình Phước
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 2 (Hai) năm 6 (S1) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2024.
Điều 2. Cơ sở giam giữ, Nhà tạm giữ Công an thị xã B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Đình Tùng |
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 13/01/2024, Lê Văn T11 rủ Điểu N góp tiền mua ma túy đá về sử dụng. Điểu N đồng ý và đưa cho T11 100.000 đồng. Sau đó, Điểu N điều khiển xe Honda Wave@ màu xanh đen, biển số 93E1-369.14 chở T11 chạy đến khu vực gần Bệnh viện Công ty C3 thuộc phường P, thị xã B, T11 trực tiếp mua của Hí P 200.000đ (Hai trăm nghỉn đồng) ma túy đá và mua thiếu 01 ống thủy tinh (nỏ), với giá 50.000 đ (Năm mươi nghìn đồng). T11 nhận 01 đoạn ống hút chứa ma túy đá và 01 ống thủy tinh cho vào vỏ bao thuốc lá SAIGON và lên xe mô tô do N điều khiển chở T11 đến quán C4” thuộc tổ I, khu phố P, phường P, thị xã B. Điểu N chở T11 vào chòi lá ở phía sau quán “Trúc Xanh” có bạn gái của N là L1 Bùi Diệu L2 (Nguyễn Diệu N1) đến trước rồi Điểu N ra quầy mua 02 chai nước ngọt và trả 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng) cho chủ quán là bà Nguyễn Thị Mỹ D3 để được ngồi trong chòi lá. Sau khi T11, N vào chòi thì Điểu N đi tìm nhặt 01 vỏ chai nước trà Ô Long bằng nhựa và vào nhà vệ sinh đổ nước vào vỏ chai quay lại chòi và lấy 01 ống hút nước giải khát màu trắng xanh do chủ quán bán cho N kèm theo 02 chai nước ngọt đưa cho T11. T11 dùng bật lửa (quẹt gaz) đốt nóng ống thủy tinh đục 02 lỗ trên nắp vỏ chai nhựa do N đưa rồi gắn ống thủy tinh vào 01 lỗ trên nắp chai dùng ống hút nước giải khát do N đưa gắn vào 01 lỗ còn lại. Tiếp đến, T11 dùng dao của T11 cắt ống nhựa chứa ma túy đổ vào ống thủy tinh. Điểu Nhin, Lê Văn T11 lần lượt dùng bật lửa đốt nóng ống thủy tinh và hút ma túy qua đường miệng đến khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 13/01/2024, Công an phường P kiểm tra quán cà phê “Trúc Xanh” phát hiện và bắt quả tang. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến trong vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS - HS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo Võ Văn L3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
tại chòi lá sau cùng của quán, có Lê Văn T11, Điểu N và La B (Nguyễn Diệu N1) đang ngồi trên võng. -Trên tay trái của Lê Văn T11 đang cầm 01 chai nhựa, có chữ “TEA” nắp màu nâu, trên nắp có 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng sọc xanh, 01 lỗ gắn ống thủy tinh (nỏ), bên trong ống thủy tinh chứa chất lỏng không màu (ký hiệu M1).
Bản án số 08/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và không tố giác tội phạm
- Số bản án: 08/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Không tố giác tội phạm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
