Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 23- 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng Triệu và Bà Trịnh Thị Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Vũ T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 10/12/1990, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ G, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Á và bà: Vũ Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 16/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 19/4/2015 chấp hành xong bản án; ngày 15/6/2016, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 14/9/2016, chấp hành xong bản án; ngày 25/10/2017, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 13/01/2022 chấp hành xong bản án; bị cáo bị can bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Vũ Quang H, tên gọi khác: Pê tô; sinh ngày: 17/4/1992, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Hải H1 và bà: Hoàng Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 08/4/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 20/4/2012 chấp hành xong bản án; ngày 27/6/2016, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 27 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 15/11/2017 chấp hành xong bản án; ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 10/8/2019 chấp hành xong bản án; bị cáo bị can bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Hà Quang T2, tên gọi khác: không; sinh ngày: 18/5/1983, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ G, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty cổ phần T7; trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Trung D và bà: Lê Thị D1; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 14/01/2002, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, ngày 14/01/2003, chấp hành xong bản án; bị cáo bị can bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa

  4. Họ và tên: Đinh Văn T3, tên gọi khác: không; sinh ngày: 27/7/2001, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn H2 và bà: Nguyễn Thị H3; vợ: Nguyễn Thị T4 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị can bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa

* Người làm chứng: bà Phạm Thị H4, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Vũ T, Hà Quang T2, Đinh Văn T3, Vũ Quang H đều là bạn bè quen biết nhau. Khoảng 19 giờ ngày 20/6/2024, tại tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, T đã bán cho H 300.000 đồng ma tuý đá. H đã chuyển trả 270.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V của mình đến tài khoản ngân hàng V1 số 6610121990 của T (nợ lại 30.000 đồng), số ma túy này H đã sử dụng hết. Khoảng 02 giờ ngày 21/6/2024, tại nhà của T ở tổ G, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh T đã bán cho T3 01 túi ma tuý đá với giá 500.000 đồng, T3 đã chuyển khoản 500.000 đồng trả cho T.

Khoảng 21 giờ ngày 20/6/2024, T2 rủ H thuê phòng VIP 302, nhà nghỉ H8 thuộc tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, để cùng nhau sử dụng ma tuý đá. T2 đặt cọc 500.000 đồng tiền phòng cho bà Phạm Thị H4 – chủ nhà nghỉ Hồng N và đưa cho H 700.000 đồng để mua ma tuý. H đi mua 01 túi ma túy rồi quay lại phòng VIP 302, lấy trên trần thạch cao 01 bộ sử dụng ma túy của người khác để lại từ trước, đổ một ít ma túy vào, còn lại H cất vào trong túi xách màu đen để trong tủ quần áo, sau đó, T2 và H thay nhau dùng bật lửa khò ma túy tự sử dụng.

Khoảng 04 giờ ngày 21/6/2024, T rủ T3 thuê phòng tại nhà nghỉ H8 để cùng nhau sử dụng ma túy. Khi đi, T cầm theo 04 túi nilon ma túy đá, 01 túi để trong túi quần và 03 túi đựng trong 01 hộp kim loại. Thịnh thuê phòng VIP 306, giấu hộp kim loại vào gối đầu giường. Do không có bộ đồ sử dụng ma tuý, T gọi điện thoại bảo H mang từ phòng 302 sang, trong bộ đồ vẫn còn ma tuý nên H lấy bật lửa khò ma túy cho T sử dụng, sử dụng xong T ngủ luôn. T3 lấy túi ma túy đá đã mua của T đưa cho H để H gỡ miệng túi ra rồi T3 đổ ma túy vào bộ đồ sử dụng, đốt lửa khò ma túy mời H sử dụng, rồi T3 cũng tự sử dụng hết số ma tuý, sử dụng xong, T3 và H đi ra ngoài.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, H và T3 quay lại phòng 306 thấy T vẫn đang ngủ, H tiếp tục lấy một ít ma tuý đá của T giấu trong gối ở đầu giường cho vào bộ đồ sử dụng ma tuý, dùng bật lửa khò ma túy tự sử dụng và tiếp tục khò ma túy đưa cho T3 sử dụng.

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 21/6/2024, Công an kiểm tra phòng VIP 302, nhà nghỉ H8, phát hiện Hà Quang T2 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ: trong tủ quần áo 01 túi xách màu đen của Vũ Quang H bên trong có: 01 túi nilon được hàn kín chứa 0,04 gam ma túy Methamphetamine; 02 vỏ túi nilon; 01 thẻ ngân hàng T8 mang tên Vu Quang H5; kiểm tra phòng 306: trong túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 túi nilon chứa 0,212 gam ma túy Methamphetamine; trong gối màu xanh trên đầu giường 01 hộp kim loại màu bạc, một mặt in chữ Memo bên trong có 03 túi nilon, chứa tổng cộng 1,35 gam ma túy Methamphetamine; trên mặt bàn uống nước 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, 01 bật lửa màu tím, 01 cân điện tử.

Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp Công an đã thu giữ của: Thịnh: 01 điện thoại Iphone màu vàng, lắp sim 0766.333.266, 01 điện thoại Iphone màu xanh đen, lắp sim 0796.355.969 và 2.000.000 đồng; thu giữ của H5: 01 điện thoại Iphone, lắp sim 0376.021.xxx, 01 điện thoại Oppo màu xanh đen, lắp sim 0366.752.778; thu giữ của T3: 01 điện thoại Iphone màu bạc, 01 điện thoại Iphone màu đen; thu giữ của T2: 01 điện thoại Oppo màu xanh đen lắp số 0705.669.768.

Tại Bản Kết luận giám định số 998 và 999/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong các túi nilon thu giữ là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng như sau: trong túi xách màu đen là 0,04 gam; trong túi quần bên trái phía trước T đang mặc là 0,212 gam; trong 03 túi nilon trong 01 hộp kim loại màu bạc có chữ Memo là 1,35 gam. Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Vũ T, Vũ Quang H, Đinh Văn T3, Hà Quang T2.

Bản Cáo trạng số 3068/CT-VKSCP ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Vũ T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Vũ Quang H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Đinh Văn T3 và Hà Quang T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Vũ T đều khai nhận: do không có việc làm ổn định bị cáo đã nảy sinh việc mua ma túy đá về vừa sử dụng vừa để bán kiếm lời. Cách một tuần trước lúc bị bắt bị cáo đã gọi điện thoại cho người phụ nữ tên H6 ở Hải Phòng (không rõ lai lịch địa chỉ) hỏi mua 05 gam ma túy đá với giá 5.000.000 đồng, bị cáo đã chuyển tiền vào tài khoản M cho người đó, mua bán xong bị cáo mang về cân lại thì chỉ nhận được 04 gam ma túy đá, bị cáo chia nhỏ ra bán lẻ cho nhiều người với giá từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Ngày 20/6/2024, tại nhà của bị cáo H bị cáo đã bán cho H 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng nhưng H chỉ chuyển khoản trả cho bị cáo 270.000 đồng và xin nợ 30.000 đồng. Khoảng 02 giờ đêm ngày 21/6/2024, bị cáo T3 gọi điện thoại đến hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, bị cáo đồng ý bán và bảo T3 chuyển tiền vào tài khoản, nhận được tiền bị cáo đi taxi đón T3 đến phòng trọ của bị cáo, tại đây bị cáo đã đưa 01 túi ma túy đá và trả cho bị cáo T3 chiếc cân điện tử bị cáo mượn từ trước đó. Bị cáo rủ bị cáo T3 đến nhà nghỉ H8 để thuê phòng ngủ và sử dụng ma túy đá, trước khi đi bị cáo cho 03 túi ma túy đá vào trong hộp kim loại màu bạc, nắp hộp có in chữ MEMO mang theo và giấu 01 túi ma túy đá vào trong túi quần. Khi đến nhà nghỉ H8 bị cáo đã thuê phòng 306, bị cáo đã cất giấu hộp kim loại có chứa ma túy vào trong chiếc gối, do không có bộ đồ sử dụng ma tuý bị cáo đã gọi cho bị cáo H để bảo mang sang. Khi H mang sang thì vẫn còn ma túy ở bên trong nỏ thủy tinh, bị cáo H đã lấy bật lửa khò châm cho bị cáo sử dụng trước một khói sau đó H tự sử dụng rồi đến T3 cũng tự sử dụng. Sử dụng xong bị cáo ngủ luôn cho đến khi bị Công an vào bắt và thu giữ vật chứng: số ma túy đá thu giữ trong hộp MEMO và trong túi quần là của bị cáo mang theo để ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Bộ đồ sử dụng ma túy là của H mang sang; chiếc bật lửa gas và cân điện tử là của bị cáo mang theo để trả cho bị cáo T3; Công an còn thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại Iphone màu vàng, lắp sim 0766.333.266 (bị cáo sử dụng vào việc phạm tội), 01 điện thoại Iphone màu xanh đen, lắp sim 0796.355.969 (bị cáo dùng để chơi game) và 2.000.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội. Bị cáo thừa nhận có nhân thân xấu đúng như phần lý lịch đã nêu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình hiện nay rất khó khăn, bố bị cáo là thương binh nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Vũ Quang H đều khai nhận: tối ngày 20/6/2024 tại nhà mình bị cáo đã mua của bị cáo T 01 túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng nhưng bị cáo mới chuyển khoản trả 270.000 đồng cho bị cáo T còn nợ lại 30.000 đồng, mua được ma tuý về bị cáo đã tự sử dụng hết. Đến khoảng 20 giờ ngày 20/6/2024 bị cáo T2 nhắn tin rủ bị cáo đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo đồng ý, bị cáo T2 đến đón bị cáo đi đến nhà nghỉ H8, tại đây, bị cáo T2 đưa cho bị cáo 700.000 đồng tiền mặt để đi mua ma túy, bị cáo T2 đặt cọc 500.000 đồng để thuê phòng 302, bị cáo đi mua 01 túi ma túy đá của người đàn ông tên T5 với giá 500.000 đồng, bị cáo mang lên phòng 302 và tìm thấy bộ sử dụng ma túy trên nóc trần thạch cao của phòng rồi bị cáo và T2 đã cùng nhau sử dụng ma túy đá đúng như nội dung vụ án đã nêu. Đến khoảng 05 giờ ngày 21/6/2024 bị cáo T gọi điện muốn mượn bộ đồ sử dụng ma túy đá, bị cáo mang sang phòng 306 cho T mượn, tại đây bị cáo thấy có T3 và T ở trên giường, do trong cóong vẫn còn ma túy nên bị cáo cầm bộ sử dụng và châm lửa cho bị cáo T hút trước, sau đó bị cáo sử dụng và để xuống giường cho T3 tự sử dụng, mỗi người sử dụng được 01 khói thì hết. Sử dụng xong bị cáo T nằm trên giường và ngủ luôn. Bị cáo T3 lấy túi nilon ma túy đá trong bao thuốc lá ra bị cáo đã lấy tay để gỡ miệng túi nilon để T3 lấy ma tuý đổ vào cóong thủy tinh, bị cáo và T3 cùng sử dụng. Sử dụng xong bị cáo T3 đi về nhà, bị cáo cũng đi có việc đến khoảng 09 giờ ngày 21/6/2024 bị cáo quay lại phòng 302 rồi sang phòng 306, khoảng 10 phút sau bị cáo T3 đến, T vẫn đang ngủ, bị cáo biết T giấu ma túy trong chiếc gối ở đầu giường nên đã tự lấy ra một ít ma túy đá cho vào cóong của bộ sử dụng để bị cáo và T3 sử dụng tiếp, sử dụng xong bị cáo ngồi chơi cho đến khi Công an vào kiểm tra, bắt và thu giữ vật chứng. Bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại Iphone màu vàng, lắp sim 0376.021.078 (bị cáo sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội), 01 điện thoại Oppo màu xanh đen, lắp sim 0366.752.778 bị cáo dùng để chơi game. Bị cáo có nhân thân xấu đúng như phần lý lịch đã nêu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình hiện nay rất khó khăn, bị cáo có ông là người có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Hà Văn T6 đều khai nhận: khoảng 21 giờ ngày 20/6/2024 bị cáo rủ và cùng với bị cáo H đến thuê phòng 302 tại nhà nghỉ H8 thuộc phường C, thành phố C để sử dụng ma tuý cùng nhau. Bị cáo đã đặt cọc 500.000 đồng để lấy phòng và đưa số tiền 700.000 đồng để bị cáo H đi mua ma tuý đá về sử dụng, tại phòng 302 cả hai bị cáo cùng sử dụng ma túy đúng như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo ngủ đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày thì Cơ quan công an vào kiểm tra, phát hiện bắt và thu giữ bên trong túi xách màu đen của bị cáo H để trong phòng có 01 túi nilon bên trong chứa ma tuý đá mà hai bị cáo sử dụng chưa hết. Bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại Oppo màu xanh đen lắp số 0705.669.768, bị cáo sử dụng nhắn tin rủ bị cáo H đi mua ma tuý về sử dụng. Bị cáo có nhân thân xấu đúng như phân lý lịch đã nêu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình và có ông nội là người có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn T3 khai nhận: khoảng 02 giờ sáng ngày 21/6/2024 bị cáo có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên đã liên lạc với bị cáo T để mua 500.000 đồng ma tuý đá, bị cáo đã chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo T, bị cáo T đi xe taxi đón bị cáo đến nhà trọ của bị cáo T, tại đây bị cáo T đã đưa cho bị cáo 01 túi nilon chứa ma tuý đá và trả cho bị cáo chiếc cân điện tử mượn từ trước đó. T rủ bị cáo đến nhà nghỉ H8 để thuê phòng 306 sử dụng ma tuý. Do không có bộ dụng cụ sử dụng nên bị cáo T gọi điện thoại cho bị cáo H, sau đó bị cáo H mang bộ đồ sử dụng ma tuý sang phòng 306. Trong bộ dụng cụ sử dụng ma tuý vẫn còn một ít ma tuý đá bị cáo H đã cầm bật lửa khò cho bị cáo T sử dụng trước, sau đó H tự cầm sử dụng và bị cáo cũng lấy để sử dụng; bị cáo T sử dụng xong ma tuý thì ngủ luôn. Bị cáo thấy hết ma tuý trong bộ sử dụng nên đã lấy túi nilon chứa ma tuý đá mua của bị cáo T ra, bị cáo H cầm túi nilon xé miệng ra rồi đưa lại cho bị cáo, bị cáo cho hết ma tuý đá trong túi vào dụng cụ sử dụng rồi cầm bật lửa khò ma tuý đưa cho H sử dụng rồi bị cáo sử dụng. Sử dụng xong bị cáo đi về, đến khoảng 10 giờ cùng ngày bị cáo quay lại phòng 306 thì thấy bị cáo H ở đó và bị cáo T vẫn đang ngủ, H và bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy đúng như bị cáo H đã khai, sử dụng hết ma tuý trong bộ dụng cụ thì bị Công an đến kiểm tra và bắt, thu giữ vật chứng đúng như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại Iphone màu bạc, 01 điện thoại Iphone màu đen đều sử dụng vào việc phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, hiện vợ bị cáo mới sinh con năm 2023, không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Bà Phạm Thị H4 – là người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai tại hồ sơ vụ án thể hiện: bà là chủ nhà nghỉ H8, ngày 20, 21/6/2024 các bị cáo có thuê phòng 302, 306 nhưng bà không biết việc các bị cáo sử dụng trái phép ma túy trong nhà nghỉ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo: Nguyễn Vũ T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Vũ Quang H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Đinh Văn T3 và Hà Quang T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 15 (mười lăm) đến 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/6/2024;

  • Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Vũ Quang H từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/6/2024;

  • Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hà Quang T2, Đinh Văn T3, mỗi bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/6/2024;

  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 các Điều 251 và 255 Bộ luật Hình sự.

  • Áp dụng điểm a, b, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • + Tịch thu tiêu hủy: phong bì còn nguyên niêm phong số 998/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q; 01 túi xách màu đen; 01 thẻ ngân hàng T8 mang tên VU QUANG HUY; 01 bộ đồ sử dụng ma tuý; 01 bật lửa màu tím; 01 cân điện tử; 01 gối màu xanh; 02 vỏ túi nilon; 01 hộp kim loại màu bạc, có in chữ MEMO; 05 chiếc sim liên quan đến 05 điện thoại bị thu giữ của các bị cáo;

  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu giữ của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu giữ của bị cáo H; 01 điện thoại thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen và 01 điện thoại thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc thu giữ của bị cáo T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh thu giữ của bị cáo T2 do liên quan đến việc phạm tội.

  • + Đối với số tiền 2.000.000 đồng Công an thu giữ của bị cáo T sau khi buộc bị cáo nộp lại 770.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước, số tiền còn lại 1.230.000 đồng tuyên trả lại cho bị cáo T cùng với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh; trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang H7 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

2.1. Đối với hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo Nguyễn Vũ T:

Tại phiên toà Nguyễn Vũ T khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản kiểm tra và tạm giữ đồ vật; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh xác định địa điểm; bản ảnh vật chứng; Biên bản kiểm tra điện thoại; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q; phù hợp với lời khai của bị cáo H7, bị cáo T3, phù hợp với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Nguyễn Vũ T đã có hành vi bán ma túy đá (loại Methamphetamine) cho bị cáo Vũ Quang H vào ngày 20/6/2024 với giá 300.000 đồng (đã nhận 270.000 đồng) để bị cáo H sử dụng; bán 01 gói ma túy đá (loại Methamphetamine) cho bị cáo Đinh Văn T3 với giá 500.000 đồng để bị cáo Thủy tổ C sử dụng với bị cáo H; ngoài ra bị cáo T còn tàng trữ 1,562 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời.

2.2. Đối với hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của các bị cáo Nguyễn Vũ T, Vũ Quang H, Đinh Văn T3 và Hà Quang T2: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai phù hợp với nhau và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng cùng với các tài liệu khác như: Biên bản kiểm tra và tạm giữ đồ vật lập hồi 11 giờ 20 phút và hồi 12 giờ 20 phút ngày 21/6/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ ngày 20/6/2024 tại phòng Vip 302, nhà nghỉ H8 ở tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Quang H và Hà Quang T2 đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Khoảng 04 giờ ngày 21/6/2024, tại phòng V2, cùng nhà nghỉ H8, Nguyễn Vũ T, Vũ Quang H có hành vi tổ chức cho nhau và cho Đinh Văn T3 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine; Đinh Văn T3 và Vũ Quang H có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Khoảng 10 giờ ngày 21/6/2024, cũng tại phòng Vip 306, Vũ Quang H có hành vi tổ chức cho Đinh Văn T3 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an tỉnh Q phát hiện, bắt giữ.

2.3. Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo: Nguyễn Vũ T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Vũ Quang H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Đinh Văn T3 và Hà Quang T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Vũ T, Vũ Quang H là rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo Đinh Văn T3 và Hà Quang T2 là nghiêm trọng; các bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các đối tượng buôn bán ma túy lớn hoạt động, gây mất trật tự an ninh xã hội tại đại phương. Việc mua bán, tổ chức sử dụng ma túy nói chung và việc mua bán, tổ chức sử dụng ma tuý đá (Methamphetamine) nói riêng đang là hiểm họa của toàn xã hội vì nó hủy hoại sinh trí lực của người sử dụng ma túy và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Trong vụ án này, các bị cáo đều biết sự nghiêm cấm của pháp luật đối với các chất ma túy và nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo kém, thiếu ý thức rèn luyện bản thân, thích chơi bời, tụ tập, thích thử cảm giác mới nên đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Hành vi phạm tội bị phát hiện là ngoài ý muốn của các bị cáo nên cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: trong việc mua bán trái phép chất ma tuý bị cáo T phạm tội độc lập, không có sự bàn bạc với các bị cáo còn lại. Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” các bị cáo có hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn: Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại phòng 302 thì bị cáo T2 là người khởi xướng, tự bỏ tiền thuê phòng nghỉ 302, đưa tiền cho H đi mua ma túy loại Methaphetamine mang về phòng 302 sử dụng cùng với bị cáo H nên có vai trò cao hơn so với bị cáo H. Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại phòng 306: bị cáo Nguyễn Vũ Thịnh P 02 tội và là người chủ mưu rủ bị cáo T3 và còn chủ động thuê phòng 306 của nhà nghỉ H8 để sử dụng ma tuý cùng với bị cáo H tổ chức cho 2 bị cáo và bị T3 sử dụng ma tuý nên bị cáo T giữ vai trò đầu vụ; bị cáo H phạm tội nhiều lần còn là người cung cấp dụng cụ, ma tuý để T và H tổ chức cho nhau và cho T3 sử dụng ma tuý tại phòng 306 nên giữ vai trò sau bị cáo T và cao hơn so với bị cáo T3. Bị cáo T2 còn có nhân thân xấu, bị cáo T3 chưa có tiền án tiền sự nên cần xử bị cáo T2 mức án cao hơn so với bị cáo T3.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo T, bị cáo H, bị cáo T2 đều có nhân thân xấu như lý lịch đã nêu, nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục phạm tội liên quan đến ma tuý, chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt. Hội động xét xử có xem xét: cả 4 bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Ngoài ra còn xem xét: bị cáo T có bố là thương binh loại A, bị cáo H có bà nội, bị cáo T2 có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo T3 có vợ mới sinh con nhỏ năm 2023 nên là lao động chính trong gia đình, do vậy áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Nhưng dù xem xét đến đâu cũng cần bắt các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[7] Về vật chứng của vụ án: quá trình kiểm tra hành chính, bắt khẩn cấp Công an đã thu giữ của các bị cáo số vật chứng, cụ thể:

  • Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của bị cáo T, 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của bị cáo T3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của bị cáo T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của bị cáo H đều liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo T 02 lần bán ma tuý cho bị cáo H và bị cáo T3, đã được nhận tổng số tiền 770.000 đồng, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước; Công an thu giữ của bị cáo T 2.000.000 đồng sau khi nộp lại 770.000 đồng số tiền còn lại thì tuyên trả lại cho bị cáo T cùng với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh; trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, do không liên quan đến việc phạm tội.

  • Đối với phong bì niêm phong số 998/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q; 01 túi xách màu đen; 01 thẻ ngân hàng T8 mang tên VU QUANG HUY; 01 bộ đồ sử dụng ma tuý; 01 bật lửa màu tím; 01 cân điện tử; 01 gối màu xanh; 02 vỏ túi nilon bên trong không chứa gì; 01 hộp kim loại màu bạc, có in chữ MEMO đều liên quan đến việc phạm tội và 05 chiếc sim liên quan đến 05 điện thoại bị thu giữ của các bị cáo do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với việc Vũ Quang H tự lấy ma túy của T để tổ chức cho T3 sử dụng trái phép, nhưng T không biết nên không đề cập xử lý. Đối với Hà Quang T2 và Vũ Quang H có hành vi tàng trữ trái phép 0,04 gam ma túy Methamphetamine chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bà Phạm Thị H4 - chủ nhà nghỉ H8 không biết việc các bị cáo sử dụng trái phép ma túy trong nhà nghỉ nên không có căn cứ xử lý về hình sự.

[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Vũ Thịnh P các tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Vũ T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/6/2024.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Vũ Quang H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Vũ Quang H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/6/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: các bị cáo Hà Quang T2 và Đinh Văn T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Hà Quang T2 27 (hai bảy) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị bắt 21/6/2024.

Xử phạt: Đinh Văn T3 24 (hai bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị bắt 21/6/2024.

Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Vũ T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng thu giữ của bị cáo Vũ Quang H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu bạc thu giữ của bị cáo Đinh Văn T3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh thu giữ của bị cáo Hà Quang T2; các điện thoại đều đã cũ, không kiểm tra được chất lượng bên trong.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Vũ T phải nộp lại số tiền 770.000 đồng (bảy trăm bảy mươi nghìn đồng);

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Vũ T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen kèm 01 chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 8401, 2305, 2454, 5141 và số tiền 1.230.000 đồng (một triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng); trả lại cho bị cáo Vũ Quang H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, kèm 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 8984, 04800, 09148, 03555 do không liên quan đến việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 998/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) thẻ ngân hàng T8 mang tên VU QUANG HUY; 01 (một) bộ đồ sử dụng ma tuý; 01 (một) bật lửa màu tím; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) gối màu xanh; 02 (hai) vỏ túi nilon bên trong không chứa gì; 01 (một) hộp kim loại màu bạc, có in chữ MEMO.

Tịch thu tiêu huỷ các sim liên quan đến 05 (năm) điện thoại bị thu của các bị cáo, cụ thể: 01 (một) chiếc sim, không xác định số sim thu giữ của Nguyễn Vũ T; 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 89840, 48000, 90781, 9524 thu giữ của Vũ Quang H; 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 89840, 48000, 93138, 4284 thu giữ của Đinh Văn T3; 02 (hai) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim 1 có 4 dãy số: 8401, 2108, 1302, 8084; trên sim 2 có 4 dãy số: 8401, 2302, 2405, 8771 thu giữ của Hà Quang T2.

(Tiền vật chứng thu giữ theo Biên bản giao nhận tài sản số 61/2024/BBBG-CQCSĐTCATPCP 05/8/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Kho bạc nhà nước thành phố C. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 45/BB -THA ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử sơ thẩm công khai có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Cẩm Phả;
  • - CQ CSĐT Công an TP Cẩm Phả;
  • - CQ THAHS Công an TP Cẩm Phả;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Cẩm Phả;
  • - 04 bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Thị Quýnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger