Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/DS-ST.

Ngày: 23.01.2025.

V/v “tranh chấp hợp đồng vay

tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Tùng
  2. Ông Lê Anh Giàu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre: Ông Huỳnh Thanh Nhã- Kiểm sát viên

Vào ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 291/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953. Địa chỉ: C khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  2. Bị đơn: Ông Trịnh Hoài Đ, sinh năm 1973. Địa chỉ: A ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Ngọc Cẩm H, sinh năm 1974. Địa chỉ: A ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Bà T có mặt, ông Đ và bà H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Vào ngày 13/01/2024, bà có khởi kiện vợ chồng ông Trịnh Hoài Đ đến Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre để yêu cầu ông Đ trả cho bà số tiền bà đã tạm ứng đóng phạt cho ông Đ bị phạt vi phạm hành chính khi tham gia giao thông. Tại Tòa

1

ông Đ đồng ý trả nợ cho bà bằng cách trả dần hàng tháng, nên bà đồng ý rút hồ sơ khởi kiện và được Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 12/2024/QĐST-DS ngày 11/03/2024.

Ngày 11/03/2024, tại Tòa ông Đ có viết giấy cam kết trả nợ cho bà bằng cách trả dần mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) đến khi nào hết số tiền nợ là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Khoảng một tháng, ông Đ có đưa cho bà được ba lần tổng cộng là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).

Sau đó, ông Đ không chịu trả tiền cho bà mà hẹn lần hẹn lượt mãi, ông Đ cố ý không muốn trả tiền cho bà, ông Đ vi phạm nghĩa vụ thực hiện trả nợ cho bà.

Nay bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc ông Trịnh Hoài Đ có trách nhiệm hoàn trả cho bà số tiền như trong giấy cam kết ông Đ hứa trả cho bà, số tiền hiện tại ông Đ còn nợ bà là 146.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng).

Tại đơn khởi kiện, bà có yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 2% tháng đến khi Tòa án giải quyết kết thúc vụ án. Tại phiên tòa, bà thay đổi yêu cầu, bà yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 11/03/2024 cho đến ngày xét xử là 10 tháng 11 ngày (tính tròn là 10 tháng) và bà khẳng định chỉ yêu cầu cá nhân ông Trịnh Hoài Đ trả số tiền trên, bà không yêu cầu vợ của ông Đ là bà Phan Ngọc Cẩm H cùng chịu trách nhiệm liên đới trả số tiền này.

Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tiến hành tống đạt theo đúng quy định các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Tổng đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; Quyết định hoãn phiên toà và các giấy triệu tập của Toà án nhưng bị đơn ông Trịnh Hoài Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Ngọc Cẩm H vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Trịnh Hoài Đ có nghĩa vụ trả cho ông số tiền 146.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng) theo Giấy cam kết ngày 11/3/2024. Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “đòi tài sản”. Tuy nhiên, theo hồ sơ thể hiện thì bà T cho ông Đ mượn tiền để nộp phạt vi phạm hành chính, sửa xe và đăng kiểm xe nên quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định lại là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Về người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định bị đơn trong vụ án là ông Trịnh Hoài Đ và bà Phan Ngọc Cẩm H. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 23/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa,

2

nguyên đơn chỉ khởi kiện ông Trịnh Hoài Đ, nên bị đơn trong vụ án được xác định là ông Trịnh Hoài Đ, còn bà Phan Ngọc Cẩm H (là vợ ông Đ) được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về thẩm quyền: Bị đơn ông Trịnh Hoài Đ có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà, bà T có mặt; ông Trịnh Hoài Đ và bà Phan Ngọc Cẩm H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trịnh Hoài Đ và bà Phan Ngọc Cẩm H.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trịnh Hoài Đ trả số tiền nợ gốc 146.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật.

Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là Giấy cam kết ngày 11/3/2024 có chữ ký của bị đơn ông Trịnh Hoài Đ. Đây là chứng cứ theo quy định khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, nguyên đơn cung cấp thì nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo hồ sơ thể hiện, ngày 24/9/2022, ông Đ có thuê xe tải biển số 71C-04077 của bà T để chở hàng hóa, trong quá trình thuê xe, ông Đ đã mượn tiền của bà T để đóng phạt vi phạm hành chính và sửa xe. Ngày 13/01/2024, bà có khởi kiện vợ chồng ông Trịnh Hoài Đ đến Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre để yêu cầu ông Đ trả cho bà số tiền 150.000.000 đồng. Sau đó, bà và ông Đ đã thỏa thuận được nên bà đồng ý rút đơn khởi kiện và được Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 12/2024/QĐST-DS ngày 11/03/2024. Cùng ngày 11/03/2024, ông Đ viết Giấy cam kết cho bà, nội dung cam kết trả nợ cho bà bằng cách trả dần mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) đến khi nào hết số tiền nợ là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù ông Đ không có mặt trong quá trình giải quyết, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 11/3/2024, ông Đ có thừa nhận nội dung ông có mượn tiền của bà T để nộp phạt vi phạm hành chính, sửa xe và đăng kiểm xe. Do đó, có đủ cơ sở xác định ông Đ có vay của bà T số tiền 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là đã vi phạm sự thỏa thuận giữa các bên theo quy định tại Điều 463; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Bà T thừa nhận, ông Đ đã trả cho bà số tiền 2.500.000 đồng, nên số tiền còn lại là 146.500.000 đồng ông Đ phải chịu trách nhiệm trả cho bà T. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên

3

đơn bà T về việc buộc bị đơn ông Đ phải có trách nhiệm trả số tiền còn lại là 146.500.000 đồng là có cơ sở để nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi số tiền 146.500.000 đồng từ ngày 11/3/2024 đến ngày xét xử là 10 tháng theo mức lãi suất 10%/năm: Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm là không vượt quá quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Số tiền được tính lãi như sau: 146.500.000 đồng x 10 tháng x 10%/năm = 12.814.000 đồng.

Tổng cộng vốn và lãi bị đơn ông Đ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là: 146.500.000 đồng + 12.814.000 đồng = 159.314.000 (Một trăm năm mươi chín triệu ba trăm mười bốn nghìn) đồng.

Do nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông Trịnh Hoài Đ chịu trách nhiệm trả khoản nợ trên nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm liên đới của bà Phan Ngọc Cẩm H trong vụ án này.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn ông Trịnh Hoài Đ phải chịu là 7.966.000 (Bảy triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 429; 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015;Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Buộc ông Trịnh Hoài Đchịu trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị T1 số tiền159.314.000 (Một trăm năm mươi chín triệu ba trăm mười bốn nghìn) đồng, gồm tiền nợ gốc 146.500.000 (một trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng và tiền lãi 12.814.000 (Mười hai triệu tám trăm mười bốn nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Trịnh Hoài Đ phải chịu là 7.966.000 (Bảy triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc

4

bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Bến Tre.
  • - TAND tỉnh Bến Tre.
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Phạm Thị Xuân Thi

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trịnh Ngọc Hồng Phạm Thị Xuân Thi
Nguyễn Thị Bé Em

6

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 08/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa và Nguyễn Thị T và ông Trịnh Hoài Đ, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger