Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/01/2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Biên;

Ông Nguyễn Văn Bảng.

Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số: 317/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/01/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đinh Thị C, sinh năm 1966 (đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Số nhà 05, ngách 24, ngõ 4 đường Đàm Thuận Huy, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1959 (đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Số nhà E, ngách B, ngõ D đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Địa chỉ nơi ở: Số nhà E, ngõ G đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện ghi ngày 03/10/2024 và bản tự khai, nguyên đơn – bà Đinh Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 1985, bà và ông Nguyễn Văn C1 làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thị xã B. Việc đăng ký kết hôn được thực hiện theo trình tự thủ tục theo quy định pháp luật dựa trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu. Do thời gian đăng ký đã lâu và nhiều lần thay đổi chỗ ở nên bà không còn giữ được Giấy chứng nhận kết hôn.

Thời gian đầu sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc. Đến năm 2008, ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng vẫn không hàn gắn được. Ông bà đã ly thân từ đó cho đến nay. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn ông Nguyễn Văn C1.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn C1 có hai con chung là: Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1985 và Nguyễn Thu T, sinh năm 1988. Các con chung đều đã trưởng thành và có gia đình riêng, bà không yêu cầu Toà án giải quyết nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Quá trình tham gia tố tụng, Bị đơn – Ông Nguyễn Văn C1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đinh Thị C có thời gian tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thị xã B vào năm 1985. Hiện ông không còn giữ được giấy đăng ký kết hôn. Sau khi được gia đình tổ chức hôn lễ, ông bà chung sống với nhau ngay. Khoảng hơn 10 năm nay, vợ chồng liên tục mâu thuẫn về vấn đề làm ăn kinh tế và sống ly thân. Ông nhận thấy không còn tình cảm, bà C xin ly hôn, ông đồng ý đề nghị Toà án giải quyết.

Về con chung: Ông và bà C có hai con chung là Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1985 và Nguyễn Thu T, sinh năm 1988. Các con chung đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết về nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Tại biên bản làm việc ngày 15/11/2024 với anh Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1985, địa chỉ: Số nhà E, ngách B, ngõ D đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được cung cấp như sau: Anh là con trai cả của bà Đinh Thị C và ông Nguyễn Văn C1. Anh không biết ngày bố mẹ anh đăng ký kết hôn là ngày nào, còn ngày sinh của anh là 18/12/1985. Quá trình bố mẹ anh chung sống, anh nhiều lần chứng kiến bố mẹ mâu thuẫn, xô xát. Đến khoảng năm 2004, bố mẹ anh ly thân. Hiện mẹ anh vẫn đi lại trong thành phố Hồ Chí Minh để giúp em gái anh chăm sóc con cái.

Nay, bố mẹ anh đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Đinh Thị C và bị đơn – ông Nguyễn Văn C1 đã được triệu tập hợp lệ và đều đề nghị vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu quan điểm như sau:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị C được ly hôn ông Nguyễn Văn C1.

- Về án phí: Bà C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về quan hệ tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của đương sự là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
    2. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Đinh Thị C và ông Nguyễn Văn C1 đều đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với các đương sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Tại Văn bản số 363/UBND-TP ngày 14/11/2024 của UBND phường L, thành phố B cung cấp thông tin không còn lưu giữ được Sổ đăng ký kết hôn năm 1985, nên không có thông tin việc đăng ký kết hôn giữa bà Đinh Thị C và ông Nguyễn Văn C1. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xác định bà Đinh Thị C kết hôn với ông Nguyễn Văn C1 năm 1985 mặc dù ông bà đều không còn giữ được giấy chứng nhận kết hôn. Con trai lớn của ông bà là anh Nguyễn Việt Đ, sinh ngày 18/12/1985, đây là thời điểm xác định hôn nhân thực tế của bà C và ông C1. Áp dụng tinh thần tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội, xác định hôn nhân của bà Đinh Thị C và ông Nguyễn Văn C1 là hôn nhân hợp pháp được xác lập trước thời điểm ngày 03/01/1987.

    Bà C và ông C1 đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn. Ông bà khai không thống nhất về thời điểm ly thân. Tuy nhiên, ông bà xác định đã ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn giữ liên lạc. Nay bà C yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, ông C1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đinh Thị C và ông Nguyễn Văn C1 đã trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử quyết định xử cho bà Đinh Thị C ly hôn ông Nguyễn Văn C1 theo quy định tại điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

    1. Về con chung: Bà C và ông C1 có hai con chung là Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1985 và Nguyễn Thu T, sinh năm 1988. Hai con đều trưởng thành, ông bà không yêu cầu Toà án giải quyết, do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
    2. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị C.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị C được ly hôn ông Nguyễn Văn C1.
  3. Về án phí: Bà Đinh Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002051 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận bà C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa án tống đạt bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Bắc Giang;
  • - TAND, VKSND Tỉnh Bắc Giang;
  • - THADS TP Bắc Giang;
  • - UBND P Trần Phú, TP Bắc Giang
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Cúc, ông Cường ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger