Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HSST

Ngày: 22/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Vũ

2. Bà Nông Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 174/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/7/1993 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú: xóm B, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở hiện nay: xóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Họ và tên cha: Hoàng Văn L, sinh năm 1971; Họ và tên mẹ: Bàn Thị D, sinh năm 1972; Cùng trú tại: Bản Lạ, Yến Dương, Ba Bể, Bắc Kạn; Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có ba anh em; Vợ: Nông Thị X, sinh năm 1986; Con: có 01 con, sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 23/8/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Lục Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/3/1991 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Hộ khẩu thường trú: xóm K, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở hiện nay: xóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông: Lục Sành P1, sinh năm 1963, trú tại xóm K, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Con bà: Triệu Thị M, sinh năm 1963 (đã chết); A, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có ba anh em;Vợ: Lục Mùi V, sinh năm 1992, trú tại xóm K, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn;Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 23/8/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Triệu Bằng G – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị X – Sinh năm 1986 Trú tại: Xóm B, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, tại khu vực tổ A, phường Đ, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Hoàng Văn P và Lục Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột do P tự giác giao nộp từ lòng bàn tay trái của P; 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, màu đen, biển kiểm soát: 11B1-376.22 xe cũ đã qua sử dụng.

Hồi 13 giờ 20 phút ngày 23/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng số ma túy đã thu giữ. Kết quả: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,85g (không phẩy tám năm gam).

Ngày 23/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 1258 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 502/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine (Heroin)”.

Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 06 giờ ngày 23/8/2024, khi đang làm thuê tại xóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Lục Văn N rủ Hoàng Văn P góp tiền cùng nhau ra thành phố tìm mua ma túy về sử dụng thì P đồng ý. Nhẩy đưa Pu 1.000.000,0đ (một triệu đồng), P cầm tiền và góp thêm 1.000.000,0đ (một triệu đồng) rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA RSX, biển kiểm soát 11B1-276.22 chở N đến khu vực B xe khách liên tỉnh Cao Bằng thuộc tổ A, phường Đ, thành phố C rồi vào ngồi uống nước tại quán trà đá đối diện cổng bến xe. Tại đây cả hai gặp một người đàn ông không quen biết, trông giống người nghiện nên P đến gần hỏi và mua được 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa ma túy với giá 2.000.000,đ (hai triệu đồng). P cầm ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe chở N đi tìm chỗ để sử dụng ma túy. Khi đến khu vực tổ A, phường Đ, thành phố C thì bị Công an thành phố C phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 182/CT-VKSTP ngày 14/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn P và Lục Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn P và Lục Văn N nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và trọng lượng ma túy bị thu giữ, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C. Các bị cáo khai nhận mỗi bị cáo góp số tiền 1.000.000đ cùng nhau mua Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án. Về tài sản thu giữ: bị cáo N1 có yêu cầu được trả lại 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO bị thu giữ. Bị cáo khai nhận có sử dụng chiếc xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu HONDA RSX, biển kiểm soát 11H1-376.22 đi mua ma tuý để sử dụng, đây là tài sản của bà Nông Thị X và không biết bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và có yêu cầu được trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu HONDA RSX, biển kiểm soát 11H1-376.22 cho bà X vì bà X không biết việc Pu mượn xe để sử dụng vào mục đích phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn P, Lục Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn P từ 18 – 24 tháng tù, bị cáo Lục Văn N từ 18 – 24 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: số ma tuý trong 01 (một) phong bì niêm phong số 502/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Lục Văn N và Hoàng Văn P có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Trả lại cho bị cáo Lục Văn N 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng.

Trả lại cho bà Nông Thị X 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu Honda RSX, biển kiểm soát 11H1-376.22.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Văn P, Lục Văn N trình bày: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cần xem xét các tình tiết sau: các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế. Mục đích các bị cáo mua ma tuý về sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác. Tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên đề nghị cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lục Văn N 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng.

Trả lại cho bà Nông Thị X 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu Honda RSX, biển kiểm soát 11H1-376.22.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị cho các bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Hoàng Văn P và Hoàng Văn N2 không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 09 giờ 00 phút ngày 23/8/2024 tại khu vực tổ A, phường Đ, thành phố C, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Hoàng Văn P và Lục Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,85g (không phây tám năm gam) ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Như vậy, hành vi của các bị cáo Hoàng Văn P và Lục Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Hoàng Văn P và Lục Văn N có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, trọng lượng ma tuý tàng trữ và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Các bị cáo sử dụng ma tuý trong thời gian dài nhưng không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tự phát, không có sự bàn bạc, phân công vai trò nên hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn không phải là phạm tội có tổ chức. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau về hành vi các bị cáo gây ra.

Xét thấy, mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, người bào chữa đối với các bị cáo tại phiên toà là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vật chứng thu giữ gồm:

Số ma tuý trong 01 (một) phong bì niêm phong số 502/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Lục Văn N và Hoàng Văn P có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo Lục Văn N 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu Honda RSX, biển kiểm soát 11H1-376.22, xe cũ đã qua sử dụng thu đối với Hoàng Văn P. Qua điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu chiếc xe là bà Nông Thị X. Ngày 23/8/2024, Pu mượn xe mô tô của X nhưng X không biết việc P sử dụng chiếc xe làm phương tiện để đi mua ma túy sử dụng nên cần trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị X không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

[7] Trong vụ án này, đối với nguồn gốc số ma túy, P và N khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách liên tỉnh Cao Bằng thuộc tổ A, phường Đ, thành phố C. Quá trình trao đổi mua bán ma túy không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh.[8] Các đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.[9] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố: các bị cáo Lục Văn N và Hoàng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 23/8/2024.

    Xử phạt bị cáo Lục Văn N 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 23/8/2024.

  2. Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Số 502/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Lục Văn N và Hoàng Văn P, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy”. (Đã có Kết luận giám định số 502/KL-KTHS, ngày 30/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh C); 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Tang cân vật quả tang, HOÀNG VĂN PU và LỤC VĂN NHẦY. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 23/8/2024".

    Trả lại cho bị cáo Lục Văn N3 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO, số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 865566044283376, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.

    Trả lại cho bà Nông Thị X 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu Honda RSX, biển kiểm soát: 11H1-376.22, số khung: RLHJA3804KY001759; Số máy: JA38E0444086, xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ, bạc màu. Xe có số khung số máy khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 04/9/2024 của Công an thành phố C cung cấp (Xe có 01 chìa khóa kèm theo).Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 24 ngày 19 tháng 11 năm 2014.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị X không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Các bị cáo Hoàng Văn P, Lục Văn N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Băng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát Tp Cao Bằng;
  • - Công an Tp Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS Tp Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HSST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 08/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Pu và Lục Văn Nhẩy xử phạt 18 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger