Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU NGANG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HS-ST.

Ngày 18/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Được.
  • Ông Nguyễn Trung Hòa.

Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hứa Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Lâm Thị Mỹ T, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1966, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Ngọc X ( đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1939; chồng tên Nguyễn Vũ K, sinh năm 1960; con có 01 người, sinh năm 2000; anh, chị, em ruột gồm có 07 người (kể cả bị cáo), lớn nhất sinh năm 1958, nhỏ nhất sinh năm 1970. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

2. Bị cáo Nguyễn Thị T2, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1972, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Đặng Thị Cẩm V (đã chết); chồng tên Hà Minh C, sinh năm 1969; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2002; anh, chị, em ruột gồm có 02 người (kể cả bị cáo), lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1974. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Hà Minh C, sinh ngày 01/01/1969. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Trần Trọng N, sinh ngày 23/02/1983. Địa chỉ: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa:

  • - Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7, màn hình cảm ứng, màu cam, có ốp lưng, bên trong có gắn 02 sim số: 0916.844.184 và 0377.837.331 (đã được niêm phong).
  • - Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màn hình cảm ứng, màu xám, có ốp lưng bằng nhựa màu tím, bên trong có sim số: 0366.408.449 (đã được niêm phong).
  • - Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màn hình cảm ứng, màu kem, có ốp lưng bằng nhựa màu trắng, bên trong có sim số: 0377.999.239 (đã được niêm phong).
  • - Một túi niêm phong, bên trong có tiền Việt Nam 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).
  • - Một túi niêm phong, bên trong có tiền Việt Nam 1.270.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/4/2024, tại nhà bị cáo Lâm Thị Mỹ T thuộc khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Công an huyện C phát hiện bị cáo T đang cầm trên tay một điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7, màn hình cảm ứng, màu cam để bán số lô, số đề nên tiến hành mời làm việc, khi thấy lực lượng Công an bị cáo T liền đập điện thoại này vào góc bếp rồi ném bỏ qua khe hở cửa sổ nhà bếp, lực lượng Công an tiến hành quản lý điện thoại có đặc điểm nêu trên, sau đó kiểm tra tin nhắn Zalo trên điện thoại phát hiện vào ngày 11/4/2024 bị cáo T có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi số đề thắng thua bằng tiền với bị cáo Nguyễn Thị T2. Hình thức chơi số đề và cách thức tính tiền thắng thua như sau:

Bị cáo T là người bán số đề (chủ đề), bị cáo T2 là người mua số đề (người chơi đề), bị cáo T2 nhắn tin cho bị cáo T để mua số đề kèm theo số tiền cá cược, dựa vào kết quả xổ số của đài M và đài Miền B để tính tiền thắng thua.

Xổ số đài M: Gồm 18 lô nhưng khi bán số đề cho bị cáo T2 chỉ tính tiền 13 lô, kết quả thắng thua được tính trong 18 lô, tỷ lệ là 1/70 lần.

Xổ số đài Miền B: Gồm 27 lô nhưng khi bán số đề cho bị cáo T2 chỉ tính tiền 20 lô, kết quả thắng thua được tính trong 27 lô. Tỷ lệ thắng thua hình thức bao lô là 1/70 lần, hình thức đá hai số là 1/600 lần.

Bị cáo T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7 và tài khoản Zalo “Bé Thiên” của bị cáo T, còn bị cáo T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus và tài khoản Zalo “A2” của ông Hà Minh C (chồng bị cáo T2) để nhắn tin mua bán số đề tham gia đánh bạc.

Vào buổi sáng ngày 11/4/2024, bị cáo T gặp bị cáo T2 tại khu vực trường học thị trấn M, huyện C. Tại đây, bị cáo T2 nói muốn mua số đề, bị cáo T đồng ý và kêu bị cáo T2 nhắn tin các số đề cần mua qua ứng dụng Zalo.

- Đối với xổ số đài M: Mở số lúc 16 giờ 15 phút với 03 đài là An Giang, Bình Thuận, Tây Ninh. Khoảng 15 giờ 34 phút ngày 11/4/2024, trước khi mở số bị cáo T2 nhắn tin cho bị cáo T mua số đề kèm theo số tiền cá cược, cụ thể như sau:

  • - Số 55: Bao lô hai đài An Giang và Bình Thuận, số tiền mua mỗi lô là 20.000 đồng, tổng cộng là 520.000 đồng.
  • - Số 68 và 86: Bao lô hai đài Tây Ninh và An Giang, số tiền mua mỗi lô là 20.000 đồng, tổng cộng là 1.040.000 đồng.
  • - Số 19: Bao lô ba đài Tây Ninh, Bình Thuận và An Giang, số tiền mua mỗi lô là 30.000 đồng, tổng cộng là 1.170.000 đồng.
  • - Số 50: Bao lô ba đài Tây Ninh, Bình Thuận và An Giang, số tiền mua mỗi lô là 60.000 đồng, tổng cộng là 2.340.000 đồng.

Kết quả xổ số: Bị cáo T2 thua hết.

Như vậy tổng số tiền đánh bạc ngày 11/4/2024 đối với lần xổ số Miền Nam của bị cáo T và bị cáo T2 là 5.070.000 đồng.

- Đối với xổ số đài Miền B: Khoảng 18 giờ 03 phút cùng ngày 11/4/2024, trước khi mở số bị cáo T2 tiếp tục nhắn tin cho bị cáo T để mua số đề gồm: Bao lô hai số 19 và 72, mỗi số mua 5.000 đồng; đá hai số 19 và 72, mỗi số mua 10.000 đồng. Tổng cộng là 600.000 đồng. Kết quả bị cáo T2 thua hết. Như vậy tổng số tiền đánh bạc ngày 11/4/2024 đối với lần xổ số Miền Bắc của bị cáo T và bị cáo T2 là 600.000 đồng.

Đến ngày 12/4/2024, bị cáo T2 nhờ chồng là ông Hà Minh C chuyển qua tài khoản Ngân hàng A của bị cáo T cài đặt trên điện thoại di động Iphone 11 Pro max để trả số tiền đánh bạc là 4.400.000 đồng. Ông C đã chuyển cho bị cáo T nhận 4.400.000 đồng, bị cáo T2 còn thiếu bị cáo T số tiền đánh bạc là 1.270.000 đồng.

Căn cứ Kết luận giám định số 202/KLGĐ-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T giám định trích xuất tin nhắn Zalo trong điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7 của bị cáo T, thời gian từ ngày 09/4/2024 đến ngày 24/4/2024 kết luận: Tìm thấy 49 tin nhắn Zalo có nội dung liên quan đến hoạt động đánh bạc (số đề), chi tiết được thể hiện trong bản ảnh giám định kèm theo. Bút lục số 06-14.

Ngày 19/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 về tội đánh bạc, áp dụng biện pháp ngăn chặn ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú các bị cáo để phục vụ công tác điều tra.

Đối với ông Hà Minh C không hay biết bị cáo T2 sử dụng điện thoại và tài khoản Zalo của ông để nhắn tin mua số đề cá cược với bị cáo T nên không có cơ sở xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 56/CT-VKS-HS, ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã quyết định truy tố các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 khai nhận: Hành vi phạm tội của các bị cáo đúng bản Cáo trạng mô tả, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung các bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, các bị cáo không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng mà thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hứa Văn B1 đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt các bị cáo Lâm Thị Mỹ T nộp phạt số tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thị T2 nộp phạt số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số đề thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa, các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 cùng khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng bản Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào ngày 11/4/2024, tại khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số đề thắng thua bằng tiền. Bị cáo T là người bán đề (chủ đề), bị cáo T2 là người mua đề (người chơi đề). Trước khi mở số, bị cáo T2 nhắn tin qua tài khoản Zalo cho bị cáo T mua số đề với tổng số tiền là 5.070.000 đồng. Kết quả mở số bị cáo T2 thua hết. Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo T và bị cáo T2 là 5.070.000 đồng (Năm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số đề thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật.

Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã cố ý xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, pháp luật Nhà nước ta nghiêm cấm đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào nhằm thu lợi bất chính. Bởi vì đánh bạc là một tệ nạn xã hội, từ việc đánh bạc có thể dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo nhận thức và biết rõ hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi số đề thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, bị cáo T là người bán số đề (chủ đề), còn bị cáo T2 là người mua số đề (người chơi đề), bị cáo T2 nhắn tin cho bị cáo T để mua số đề kèm theo số tiền cá cược, dựa vào kết quả xổ số của đài M và đài Miền B để tính tiền thắng thua.

Vào khoảng 15 giờ 34 ngày 11/4/2024 bị cáo T2 mua số đề của bị cáo T của đài xổ số đài Miền Nam là 03 đài An Giang, Bình Thuận, Tây Ninh, mở xổ số vào lúc 16 giờ 15 phút, trước khi mở xổ số bị cáo T2 nhắn tin cho bị cáo T mua số đề kèm theo số tiền cá cược là 5.070.000 đồng, kết quả bị Công an bắt quả tang, từ đó đã dẫn các bị cáo đến con đường phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhận thức và biết được hành vi chơi số đề thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, nhằm thu lợi những đồng tiền bất chính thông qua việc đánh bạc không phải tốn nhiều công sức vẫn có thu nhập. Qua đó thể hiện các bị cáo xem thường pháp luật, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra dư luận không tốt trong đời sống xã hội, đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng gia đình văn hóa và bài trừ các tệ nạn xã hội. Xét về nhân thân bị cáo T có 01 tiền sự năm 2021 bị Công an thị trấn M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã được xóa), còn bị cáo T2 có nhân thân tốt, do đó bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T2. Hành vi phạm tội của 02 bị cáo cân phải xử lý nghiêm để phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có điều kiện kinh tế ổn định, trong thời gian thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, các bị cáo chấp hành tốt việc cam đoan, không vi phạm, các bị cáo ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và mong muốn làm lại cuộc đời, cam kết không tái phạm....Xét thấy việc không bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng gì đến nguy hại cho xã hội. Căn cứ tính chất của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền để xử phạt các bị cáo cũng đủ sức giáo dục các bị cáo trở thành công dân tôt.

[2]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với các vật chứng gồm: Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7, màn hình cảm ứng, màu cam, có ốp lưng, bên trong có gắn 02 sim số: 0916.844.184 và 0377.837.331 (đã được niêm phong). Là của bị cáo T sử dụng vào việc chơi số đề; một túi niêm phong, bên trong có tiền Việt Nam 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) và một túi niêm phong, bên trong có tiền Việt Nam 1.270.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Đây là số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màn hình cảm ứng, màu xám, có ốp lưng bằng nhựa màu tím, bên trong có sim số: 0366.408.449 (đã được niêm phong) là của bị cáo T, bị cáo không sử dụng điện thoại này để chơi số đề mà chỉ sử dụng App để nhận tiền chơi số đề do ông C chồng bị cáo T2 chuyển khoản. Còn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màn hình cảm ứng, màu kem, có ốp lưng bằng nhựa màu trắng, bên trong có sim số: 0377.999.239 (đã được niêm phong) là của ông C, bị cáo T2 lấy điện thoại này nhắn tin mua số đề ông C không hay biết. Hội đồng xét xử quyết định tuyên trả cho bị cáo, ông C nhận lại điện thoại là đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về án phí hình sự: Buộc các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2, mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng.

[4]. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2 phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lâm Thị Mỹ T nộp phạt số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T2 nộp phạt số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:

  • - Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7, màn hình cảm ứng, màu cam, có ốp lưng, bên trong có gắn 02 sim số: 0916.844.184 và 0377.837.331 (đã được niêm phong).
  • - Một túi niêm phong, bên trong có tiền Việt Nam 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).
  • - Một túi niêm phong, bên trong có tiền Việt Nam 1.270.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

Tuyên trả cho bị cáo Lâm Thị Mỹ T:

Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màn hình cảm ứng, màu xám, có ốp lưng bằng nhựa màu tím, bên trong có sim số: 0366.408.449 (đã được niêm phong).

T3 trả cho ông Hà Minh C:

Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màn hình cảm ứng, màu kem, có ốp lưng bằng nhựa màu trắng, bên trong có sim số: 0377.999.239 (đã được niêm phong).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lâm Thị Mỹ T và Nguyễn Thị T2, mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lý Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 08/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T nhận ghi đề cho bị cáo T2 đánh đề
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger