Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 08/2024/HS-ST

Ngày 15-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên

2. Ông Đèo Văn Vĩnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn Vần D1; giới tính: Nam; sinh năm 1955; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 02/10; Con ông Tẩn Phủ N, đã chết và con bà Tẩn Lở M, đã chết; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ: Tẩn Tả M1, đã chết; Con: có 07 con, con lớn nhất đã chết, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 08/7/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Tẩn Văn H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Bản D, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 28/6/2024, Tẩn Vần D1 đi bộ từ nhà đến bản C, xã S, huyện P tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Chí S, D1 mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch 03 gói Heroine giá 300.000 đồng. Mua được H2, D1 mang về nhà để trong một lọ nhựa màu trắng cất giấu dưới gối trong phòng ngủ, không cho ai biết.

Khoảng 06 giờ ngày 29/6/2024, Tẩn V Diếu lấy 01 gói Heroine trong lọ nhựa san một phần sang mảnh giấy màu trắng để trên bàn uống nước, D1 gói mảnh giấy màu trắng lại rồi đi ra ngoài mua thức ăn. Trên đường đi, D1 gặp Tẩn Văn H1, sinh năm 1990, trú tại bản D, xã S, huyện P. Qua nói chuyện, H1 hỏi mua Heroine của D1 để sử dụng, D1 đồng ý bán và bảo H1 về nhà giao dịch. Khoảng 07 giờ cùng ngày, tại nhà ở của mình thuộc bản C, xã S, huyện P, D1 lấy gói Heroine để trên bàn chia thành 02 phần, một phần cho vào mảnh giấy màu trắng bán cho H1 lấy số tiền 100.000 đồng (H1 đưa cho D1 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, D1 đưa lại cho H1 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), phần Heroine còn lại để trên bàn uống nước. Mua H2, H1 hỏi D1 cho mình sử dụng Heroine ngay tại nhà của D1 và được D1 đồng ý. Sau đó, H1 tự lấy mảnh giấy bạc và bật lửa ga màu đỏ có sẵn trong nhà D1 sử dụng hết số Heroine mua được bằng hình thức hít. Đến hồi 07 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, Tẩn Vần Diếu đang ở nhà tại bản C, xã S, huyện P thì Công an xã S đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thu giữ của D1 01 lọ nhựa màu trắng bên trong đựng 03 gói Heroine, 01 gói Heroine để trên bàn uống nước và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng là tiền do bán H2 cho H1 mà có). Lúc này, Tẩn Văn H1 đang ở trong nhà của D1, lực lượng Công an thu giữ của H1 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (là tiền thừa mua Heroine D trả lại H1).

Tại bản Kết luận giám định số 53/KLGĐ ngày 29/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Vần Diếu có tổng khối lượng là 0,562 gam. Tại bản Kết luận giám định số 876/KLGĐ ngày 03/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 04 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Ngày 29/6/2024, Cơ quan điều tra cho Tẩn Vần D1, Tẩn Văn H1 nhận diện các tờ tiền bị thu giữ, kết quả: Diếu, H1 xác nhận tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng là tiền H1 đưa cho D1 để mua Heroine, tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng là tiền thừa Diếu trả lại H1. Tại bản Kết luận giám định số 922/KLGĐ ngày 08/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 300.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Ngày 08/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tiến hành thực nghiệm điều tra cho Tẩn V Diếu diễn lại hành vi mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả: Diếu đã thực hiện lại hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra.

Bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Tẩn Vần D2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “ Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 101/KLĐT ngày 26/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp chung cho hai tội là từ 04 năm 02 tháng đến 04 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 và khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt cho cả hai tội và áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251; khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia phiên tòa của người bào chữa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 07 giờ ngày 29/6/2024, tại nhà ở thuộc quyền quản lý hợp pháp của mình thuộc bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Tẩn Vần D1 đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Tấn Văn H1, lấy số tiền 100.000 đồng. Sau khi bán Heroine, D1 đã đồng ý cho Tẩn Văn H1 sử dụng hết số Heroine mua được ngay tại nhà mình. Hồi 07 giờ 30 phút cùng ngày, Tẩn V Diếu đang ở nhà thì bị Công an xã S bắt quả tang, thu giữ 04 gói Heroine có tổng khối lượng 0,562 gam Diếu tàng trữ để bán kiếm lời và số tiền 100.000 đồng do bán H2 cho H1 mà có. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên có mối quan hệ với các đối tượng nghiện chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn rất thấp nên nhận thức pháp luật rất còn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm của cả hai tội đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Xét đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất cho cả hai tội. Xét thấy, đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo đã tàng trữ 0,562 gam mục đích để bán nên không thể cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; đối với tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo chứa chấp 01 người sử dụng trái phép chất ma túy nên chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo mức án thấp nhất của khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu nhập thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,562 gam Heroine thu giữ của bị cáo, Cơ quan điều tra đã lấy 0,099 gửi giám định chất ma túy không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng còn lại gồm: 0,463 gam Heroine; 01 lọ nhựa màu trắng; 03 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 02 phong bì niêm phong đã mở; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Số tiền 300.000 đồng, trong đó có 100.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước và 200.000đồng không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng và trả lại cho anh Tẩn Văn H1 số tiền 100.000 đồng theo quy định điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Tẩn Vần D1 khai mua được của một người không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với Tẩn Văn H1 có hành vi mua ma túy của Tẩn Vần Diếu để sử dụng. H1 đã sử dụng hết số Heroine mua được, do vậy Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 là đúng quy định

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; khoản 1, 3 Điều 256; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; điểm a,b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Vần D1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 02 (H3) tháng tù về tội"Mua bán trái phép chất ma túy" và 02 (H3) năm tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy". Hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (Bốn) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  4. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 0,463 gam Heroine; 01 lọ nhựa màu trắng; 03 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 02 phong bì niêm phong đã mở; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy.

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

    Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng).

    Trả lại cho anh Tẩn Văn H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Bản D, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu số tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng).

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).

  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 08/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn vần D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger