|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08 /2024 /HS-ST Ngày: 29/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mạnh Hải
Ông Ngô Quang Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Quản - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng N, sinh năm 1997 (Tên gọi khác: Không)
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1974. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ Bùi Thị T, sinh năm 1993; có 02 con, lớn sinh năm 2017 và nhỏ sinh năm 2019
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1974. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)
2. Bà Lữ Thị T1, sinh năm 1968. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/7/2024, Nguyễn Hồng N cùng anh ruột là Nguyễn Xuân T2 uống bia tại nhà của N. Trong quá trình uống bia N có nói chuyện với T2 về việc giữa N và anh Nguyễn Văn T3 cách đây khoảng 05 năm có mâu thuẫn, N bị T3 đánh nên hiện giờ vẫn còn bực tức.
Quá trình ăn uống đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 19/7/2024, N đi vào bếp nhà N lấy 03 con dao (trong đó 01 con dao loại dao để chặt có kích thước chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao màu trắng dài khoảng 15cm, rộng khoảng 10cm và 02 con dao loại dao dùng để gọt hoa quả, 01 con dao dài khoảng 15cm, 01 con dao dài khoảng 25cm), N cầm dao đến nhà T3 để giải quyết mâu thuẫn trước đây, T2 thấy N đi được khoảng 20 m, nên đi xe đạp điện đuổi theo can ngăn N và giằng được 02 con dao loại dao dùng để gọt hoa quả để vào giỏ xe đạp điện, dựng sẵn gần cửa. Lúc này, trên tay N vẫn cầm 01 con dao (loại dao chặt) đi bộ một mình đến nhà T3, thấy vậy T2 liền đi xe điện đuổi theo phía sau. N đi theo đường L, đi vào vườn hoa Lê Hồng P, đi qua cổng khu phố P đến nhà anh T3, đoạn đường dài 470m. Trên đường đi T2 liên tục can ngăn N, nói với N: “Ngọc ơi, anh xin mày”, N nói lại: “anh kệ em”. T2 đi theo sau đến cổng đền P1 thì đỗ xe đạp điện lại, cầm 02 con dao đi theo N vào nhà T3, mục đích cầm theo dao vì sợ để ở xe sẽ có người lấy mất. Trên đường đi vào nhà T3, T2 đánh rơi mất 01 con dao lúc nào không biết, khi đến nơi thì trên tay phải chỉ cầm 01 con dao. Đến 00 giờ 40 phút, N đến gần nhà anh T3 đứng ở đường dân sinh trong khu phố chửi to tiếng “T3 đâu, Đ mẹ thằng T3 đâu”, không thấy T3 ra do T3 không có nhà, bên trong không có ai trả lời N tiếp tục đi vào khu đất trống trước nhà bà Lữ Thị Thanh T4 trong phòng có điện sáng, bên trong nhà lúc này có bà Lữ Thị T1 đang ngồi may quần áo, cháu Nguyễn Thị Ngọc Q ngồi sát cạnh bà T1 và chị Nguyễn Thị C1 (là chị dâu của T3) cùng với 02 con nhỏ đang ngủ trong phòng riêng. Lúc này, N cầm dao bằng tay phải đập 03 cái vào cửa phòng làm vỡ 02 ô kính và chửi to tiếng “Đ. mẹ mày”. Bên trong bà T1 nói “Cái gì đấy?”. T2 giữ tay can ngăn N và nói “Ngọc ơi, anh xin mày N ơi”. N vừa chửi vừa gõ dao vào cửa. Lúc này bà T1 mở cửa thì N hỏi “Anh T3 chứ gì? Anh T3 đâu?, bà T1 sợ hãi trả lời “Cô xin cháu. T3 không có nhà”. T2 tiếp tục can ngăn: “Thôi Ngọc ơi, N ơi”. N không nghe, tiếp tục dùng dao chém 4-5 cái vào bàn máy khâu làm vỡ lớp vỏ nhựa của máy khâu, bà T1 sợ hãi nói: “Ui rồi cháu ơi, cháu ơi”. T2 kéo tay N ra thì N nói “Anh để im”. Sau đó N đi ra sân vừa chửi to tiếng vừa cầm dao lên khua rồi dùng dao tiếp tục chém 02 nhát vào mặt bàn inox hình tròn dùng để uống nước, làm lõm và thủng mặt bàn. T2 vẫn tiếp tục can ngăn nhưng N không nghe. Chị C1 lúc này đang ở trong phòng riêng thấy vậy, sợ hãi nên chỉ nhìn ra mà không dám ra ngoài. Sau đó N quay lại chém 01 cái vào bàn máy khâu, rồi đi ra ngoài dùng dao đập vào vách tường của phòng bà T1. Quá trình đập phá, N liên tục chửi to tiếng như “Đ. mẹ thằng T3 đâu rồi. Đ. mẹ thằng T3 nhé, Đ. Mẹ mày”. Sự việc ở nhà bà T1 diễn ra trong khoảng 05 phút. Sau đó N và T2 đi về, do say nên T2 để quên chiếc xe đạp điện ở cổng đền P1, T2 thấy con dao mình đánh rơi trước đó ở trên đường nên nhặt cầm về. T2 và N vừa đi vừa nói chuyện, khi đi đến đoạn đường ngõ chợ G đã vứt dao ở vị trí nào không rõ. Sự việc N cầm dao từ nhà đi trên đường đến nhà bà T1, đoạn đường dài 470m, diễn ra trong khoảng 30 phút, từ 00 giờ 20 phút đến 00 giờ 50 phút ngày 19/7/2024.
Hồi 8 giờ 40 phút ngày 19/7/2024 bà Lữ Thị T1 có đơn trình báo đến Công an phường Đ, thành phố T đề nghị xử lý đối tượng có hành vi chửi to tiếng, dùng dao đập vào ô cửa kính, chém vào bàn máy khâu, chém vào bàn inox uống nước và bồi thường thiệt hại hư hỏng tài sản. Bà T1 giao nộp 01 đoạn video trích xuất từ Camera an ninh ghi lại toàn bộ quá trình xảy ra sự việc.
Hồi 14 giờ ngày 19/7/2024, Nguyễn Hồng N đến Công an phường Đ đầu thú về hành vi vi phạm của bản thân.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Kết quả: Quãng đường từ N đến nhà bà T1 là 440m. Hiện trường chính là nhà bà T1 đã bị xáo trộn do gia đình bà T1 đã quét dọn. Vị trí nơi xảy ra vụ việc tại nơi ở của gia đình bà Lữ Thị T1 tại khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- + Phòng may có cửa phòng bằng nhôm kính kích thước (1,98 x 0,73)m, cửa có 04 ô kính bằng kính mờ. Phát hiện 02 ô kính phía dưới có kích thước (0,26 x 0,5)m bị vỡ.
- + Chiếc bàn máy khâu nhẵn hiệu Jack, mặt bàn bằng gỗ ép bọc nhựa. Tại vị trí đầu bàn bên trái có nhiều vết xước, vỡ lớp vỏ nhựa bên ngoài kích thước (0,33 x 0,32)m.
- + Chiếc bàn inox hình tròn đường kính mặt bàn 0,87m. Trên mặt bàn có 01 vết thủng dài 9cm, 01 vết lõm dài 7cm.
Tại Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận:
- + Cửa nhôm kính kích thước (1,98x0,73)m, cửa có 04 ô kính (loại kính mờ) kích thước các ô kính là (0,26x0,5)m, bị hư hỏng gồm: 02 (hai) ô kính phía dưới bị vỡ. Giá trị thiệt hại của cửa nhôm kính là: 120.000 đồng.
- + Máy khâu nhãn hiệu JACK, mặt bàn máy khâu bằng gỗ ép bọc nhựa bên ngoài kích thước (1,2x0,54)m, bị hư hỏng gồm: Mặt bàn máy khâu tại vị trí bên trái có nhiều vết xước, vỡ lớp nhựa kích thước (0,33x0,32)m. Giá trị thiệt hại của máy khâu là: 300.000 đồng.
- + Bàn inox hình tròn, mặt bàn có đường kính 0,87m, bị hư hỏng gồm: 01 (một) vết lõm, thủng dài 09cm; 01 (một) vết lõm dài 07cm. Giá trị thiệt hại của bàn inox là: 200.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản nêu trên là: 620.000 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm hai mươi nghìn đồng).
Sau khi xảy ra sự việc, ngày 20/7/2024 Ủy ban nhân dân phường Đ báo cáo sự việc đề nghị Công an thành phố T xác minh làm rõ hành vi chửi tục to tiếng và cầm dao đập phá đồ đạc nhà bà T1 của N vào khoảng 00 giờ 40 phút ngày 19/7/2024 là nơi tập trung đông dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 112/CT-VKS-TS ngày 05/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Nguyễn Hồng N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Hồng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị N1 trình bày. Bà là mẹ đẻ của bị cáo N. Sau khi sự việc xảy ra bà đã đứng ra bồi thường cho bà T1 số tiền là 620.000 đồng. Bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên cho bà.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N từ 26 đến 29 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 52 đến 58 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn. Khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người tham gia tố tụng khác đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng từ 00 giờ 20 phút đến 00 giờ 50 phút ngày 19/07/2024 tại khu phố P, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Hồng N đã có hành vi cầm 01 con dao đến trước cửa nhà bà Lữ Thị Thanh C2 to tiếng “Đ. mẹ thằng T3 đâu rồi. Đ. mẹ thằng T3 nhé, Đ. Mẹ mày”. Sau đó, N đi vào sân trước cửa gia đình nhà bà T1 vừa chửi to tiếng vừa cầm dao đập phá làm hư hỏng tài sản nhà bà T1. Cụ thể N dùng dao chém 02 nhát làm vỡ 02 ô cửa kính, chém 05 nhát vào bàn máy khâu làm xước, vỡ nhựa bàn máy may, chém 02 nhát làm lõm và thủng bàn inox uống nước, thiệt hại tài sản là 620.000đ. Hành vi chửi bới to tiếng ở đường trong khu vực đông dân cư, dùng dao chém làm hư hỏng tài sản gia đình bà T1 của N diễn ra vào ban đêm đã ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung, khiến những người trong gia đình bà T1 sợ hãi, gây mất an ninh chính trị, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Gây rối trật tự công cộng, phạm vào điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, đe dọa sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; khai báo thành khẩn, đã tác động đến gia đình để bồi thường tiền cho người liên quan, được người liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nghiệm hình sự, bị cáo có ông nội được tặng huân chương chiến công giải phòng, ông ngoại được tặng huân chương chiến sĩ giải phóng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát thành phố T tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bà Lữ Thị T1 số tiền 620.000 đồng. Bà T1 đã nhận số tiền và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng thời không có đề nghị gì khác.
[6] Đối với anh Nguyễn Xuân T2 cầm dao đi cùng N vào nhà bà T1, mục đích đi cùng để can ngăn N, T2 không có hành vi chửi to tiếng, phá hoại tài sản, T2 liên tục can ngăn N nhưng N không nghe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý với T2 là phù hợp.
Đối với hành vi của N dùng dao chém làm hư hỏng tài sản trị giá 620.000 đồng của gia đình bà T1 (thiệt hại dưới 2.000.000đ). Do N chưa có tiền án, tiền sự về hành vi xâm phạm sở hữu nên không cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điều 178 Bộ luật hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
-
Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N 26 ( Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án./.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng N Gây rối trật tự công cộng
