|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Phước Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Hoài Lượm.
- Ông Phạm Quang Nhớ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ba - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Núi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Phú Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1978
tại Hồ N - Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo H; Trình độ văn hóa: 10/12; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Phạm Văn M, sinh năm 1929 (đã chết); Họ tên mẹ: Phan Thị S, sinh năm 1933 (đã chết); Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố và được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 16/LC-CQĐT ngày 19/04/2024 và tạm hoãn xuất cảnh theo quyết định số 46/QĐCQCSĐT ngày 19/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang. Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Nguyễn Văn L, sinh năm 1962 (đã chết)
Địa chỉ: ấp N, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- - Bà Nao Y, sinh năm 1958
- - Ông Nao L1, sinh năm 1992
- - Ông Nao B, sinh năm 1989
- - Bà Nao S1, sinh năm 1996
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện K, tỉnh Takeo, vương quốc Campuchia.
* Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại (bà Nao Y, ông Nao L1, ông Nao B, bà Nao S1):
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1964 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp N, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Trọng T, sinh năm 1980 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
- Bà Phạm Bích T1, sinh năm 1965 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ sáng ngày 23/02/2024, Phạm Phú Q (sinh năm: 1978; Nơi thường trú ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp) trực tiếp điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX mang biển kiểm soát 66G1- 021.49, chở theo ông Trần Trọng T đi từ ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang đến thành phố H để đi thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, khi đi đến đoạn đường K Quốc lộ N thuộc Tổ D, ấp N, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang thì xe được điều khiển bởi Phạm Phú Q xảy ra va chạm vào người ông Nguyễn Văn L do Phạm Phú Q đã không thực hiện việc giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường, hậu quả làm ông L chấn thương vùng đầu và tử vong trên đường đi cấp cứu. (Bút lục 31, 35, 81, 130, 134, 164, 165, 168, 169).
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường (kèm theo sơ đồ hiện trường) ngày 23/02/2024; biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 24/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang ghi nhận phù hợp với nội dung vụ án (Các bút lục số 09, 11, 42)
* Kết quả khám nghiệm phương tiện và giám định kỹ thuật hình sự:
Căn cứ Kết luận giám định số: 423/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận đối với hệ thống phanh xe mô tô biển kiểm soát 66G1-021.49, nhãn hiệu Honda PCX, số khung 300XBY020149, số máy: 28E – 2123811, màu đen-nâu như sau:
“1. Tại thời điểm tiến hành giám định, hệ thống phanh trước (phanh bánh xe trục 01) của xe mô tô mang biển kiểm soát 66G1-021.49 không bị hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
- Hệ thống phanh trước của xe mô tô mang biển kiểm soát 66G1-021.49 tại thời điểm tiến hành giám định có hiệu lực phanh.
2. Hệ thống phanh sau (phanh bánh xe trục (2):
- Hệ thống phanh sau của xe mô tô mang biển kiểm soát 66G1-021.49 tại thời điểm tiến hành giám định, không có hiệu lực phanh. (Do không điều chỉnh đai ốc tăng giảm khe hở giữa má phanh và trông phanh, nên khe hở giữa má phanh và trống phanh lớn, vì vậy khi tác động vào tay phanh hết hành trình (bóp sát tay thắng), qua cơ cấu truyền động dẫn đến má phanh bung ra hết hành trình, nhưng má phanh vẫn không bỏ sát vào trống phanh để tạo lực ma sát lên trống phanh, từ đó không thể hãm phanh được bánh xe sau (bánh xe trục 02)”. (Bút lục số 113)
* Kết luận giám định pháp y tử thi đối với nạn nhân:
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 206/KLGĐTT- KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận đối với ông Nguyễn Văn L:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm:
- + Bầm tụ máu và phù nề vùng chẩm phải.
- + Sây sát da, bầm tụ máu thái dương phải đến đuôi mắt phải.
- + Tụ máu dưới da đầu vùng trán đỉnh chẩm.
- + Nứt xương hộp sọ phức tạp vùng chẩm phải trên diện 8cm x 6cm.
- + Nứt xương hộp sọ đường khớp định đến trán dài 18cm.
- + Tụ máu dưới màng nhện bán cầu đại não hai bên.
- Kết quả xét nghiệm viêm gan siêu vi B (HBsAg), ngày 01/3/2024 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh K Kết quả: Dương tính.
2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não trên người bệnh viêm gan siêu vi B. (các bút lục 81-82).
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất kích thích đối với bị cáo Phạm Phú Q:
Không ghi nhận nồng độ cồn trong khí thở; xét nghiệm nhanh âm tính với chất ma túy.
* Về vật chứng vụ án thu giữ trong vụ án:
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66G1-021.49; nhãn hiệu Honda; số loại PCX; số khung: 300XBY020149, số máy: 28E - 2123811, màu đen - nâu, xe đã qua sử dụng (Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang)
- - 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 tên Phạm Phú Q, sinh ngày 01/01/1978 số: [...]; do Sở Giao thông và vận tải tỉnh A cấp ngày 04/12/2020 (Kèm theo hồ sơ vụ án)
* Về trách nhiệm dân sự:
Phạm Phú Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và hỗ trợ về chi phí mai táng cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng). Phía gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không xem xét.
* Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSGT ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành đã truy tố bị cáo Phạm Phú Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b)......"
* Tại phiên tòa,
đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang tiếp tục giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng cũng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
01/ Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Phú Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
02/ Về hình phạt:
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 36; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên phạt bị cáo Phạm Phú Q với hình phạt cải tạo không giao giữ từ 12 tháng đến 15 tháng.
Hình phạt bổ sung: Không có.
Các biện pháp tư pháp: Không có.
03/ Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm b, khoản 3, 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại vật chứng cho chủ sở hữu:
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66G1-021.49; nhãn hiệu Honda; số loại PCX; số khung: 300XBY020149, số máy: 28E - 2123811, màu đen- nâu, xe đã qua sử dụng.
- - 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 tên Phạm Phú Q, sinh ngày 01/01/1978 số: [...]; do Sở Giao thông và vận tải tỉnh A cấp ngày 04/12/2020 (kèm theo hồ sơ vụ án)
04/ Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện phía gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không xem xét.
05/ Về án phí:
Buộc bị cáo Phạm Phú Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Phú Q không có ý kiến tranh luận.
Được nói lời sau cùng bị cáo Phạm Phú Q xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 35, Điều 37 và Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, Kiểm sát viên thu thập và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều phù hợp quy định của bộ luật tố tụng hình sự về chứng cứ. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, và xét xử tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng:
Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại (bà Nao Y, ông Nao L1, ông Nao B, bà Nao S1) là: Ông Nguyễn Văn K vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Trần Trọng T và bà Phạm Bích T1 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Phú Q khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu lời khai của bị cáo với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 06 giờ sáng ngày 23 tháng 02 năm 2024, Phạm Phú Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66G1-021.49, khi đến đoạn đường K Quốc lộ N thuộc Tổ D, ấp N, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang thì xảy ra va chạm với ông Nguyễn Văn L đang đi bộ qua đường, hậu quả làm ông L tử vong trên đường đi cấp cứu. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 4 Điều 8; khoản 4 Điều 11 và khoản 2 Điều 53 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 khi đưa xe cơ giới không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông đường bộ. Đồng thời, hành vi của Phạm Phú Q còn vi phạm quy định tại khoản 6, Điều 5, Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G khi đã không thực hiện việc giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường.
Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b)......"
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hiện nay, tình trạng vi phạm Luật giao thông ngày càng gia tăng, nhiều vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng về tài sản, tính mạng, sức khỏe. Nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu ý thức của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông. Bị cáo Phạm Phú Q điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 66 G1-012.49 tham gia giao thông đường bộ, mặc dù đã phát hiện dấu hiệu không an toàn của phương tiện khi lưu thông trên đường nhưng bị cáo đã không sửa chữa, khắc phục ngay mà vẫn tiếp tục sử dụng phương tiện là nguồn nguy hiểm cao độ khi lưu thông trên đường, không thực hiện việc giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn. Hành vi của bị cáo, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, trật tự an toàn giao thông và sức khỏe của người khác. Do đó, việc điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời cần có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo, răn đe để bị cáo trở thành công dân tốt; góp phần tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân và phòng ngừa chung trong xã hội. Theo vị đại diện Viện kiểm sát luận tội và đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo là hình phạt cải tạo không giam giữ từ 12 tháng đến 15 tháng, không khấu trừ thu nhập và xử lý các vấn đề liên quan đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Về nhân thân của bị cáo: Trước đây bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Phạm Phú Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình bị hại với số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử ông Nguyễn Văn K là người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Do người đại diện của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
[9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án. HĐXX thấy có căn cứ để tuyên:
Trả lại vật chứng là: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66G1-021.49; nhãn hiệu Honda; số loại PCX; số khung: 300XBY020149, số máy: 28E - 2123811, màu đen- nâu, xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là bà Phạm Bích T1.
Trả lại cho bị cáo Phạm Phú Q 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 tên Phạm Phú Q, sinh ngày 01/01/1978 số: [...]; do Sở Giao thông và vận tải tỉnh An Giang cấp ngày 04/12/2020.
[10] Về án phí: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 36; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
1. Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Phú Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Phú Q 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Đồng Tháp nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phạm Phú Q cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Phạm Phú Q có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành án hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Miễn hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Phú Q.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện phía gia đình bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên HĐXX không xét.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm b, khoản 3, 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại vật chứng là: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66G1-021.49; nhãn hiệu Honda; số loại PCX; số khung: 300XBY020149, số máy: 28E - 2123811, màu đen- nâu, xe cũ đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là bà Phạm Bích T1.
Trả lại cho bị cáo Phạm Phú Q 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 tên Phạm Phú Q, sinh ngày 01/01/1978 số: [...]; do Sở Giao thông và vận tải tỉnh An Giang cấp ngày 04/12/2020.
4. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp trên xét xử phúc thẩm. Đại diện của những người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Phước Lộc |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
