Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HC-ST

Ngày: 03/9/2024

V/v: hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Hoàng Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Xuân Thí và bà Hoàng Thị Thoan

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 03/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số: 36/2023/TLST-HC ngày 05/12/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình về: “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HC ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: ông Võ Doãn P, sinh năm 1985; Địa chỉ: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Võ Khắc H, sinh năm 1962, địa chi: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người bị kiện: Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Q. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: ông Nguyễn Trung H1 Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ủy ban nhân dân huyện Q. Vắng mặt.
  • Ông Võ Doãn Đ, bà Võ Thị L; địa chỉ: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Doãn Đ: ông Võ Doãn Đ1, địa chỉ: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện ông Võ Doãn P, người đại diện theo ủy quyền ông Võ Khắc H thống nhất trình bày: Gia đình ông Võ Doãn T và bà Võ Thị V cùng gia đình Võ Doãn Đ là hàng xóm của nhau trước năm 2000. Năm 2014, hai gia đình đã thống nhất xây hàng rào làm ranh giới thửa đất giữa hai gia đình. Đến năm 2022, ông Võ Doãn T và bà Võ Thị V đã già cả và đã làm thủ tục sang tên cho con là Võ Doãn P, Võ Thị T1 bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thửa đất đó là thửa đất số 1100 tờ bản đồ số 11 mang tên Võ Doãn T2, Võ Thị V có diện tích là 389,7m² cụ thể: Phía bắc: 17,05m, phía Nam: 15,61m, phía Đông: 24,12m, phía Tây 23,8m.

Tuy nhiên khi cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Võ Doãn P, Võ Thị Thanh 1 không đúng với bản gốc của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1100 tờ bản đồ số 11, cụ thể phía bắc thửa đất chỉ có chiều dài 13,69m (thiếu 3,36m). Vì vậy, ông Võ Doãn P khởi kiện lên toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình yêu cầu giải quyết: Huỷ giấy chứng nhận đất tại thửa số 1054 tờ bản đồ số 11 mang tên Võ Doãn Đ và bà Võ Thị L, địa chỉ: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và thửa đất số 1100 tờ bản đồ số 11 mang tên Võ Doãn P và bà Võ Thị T1, địa chỉ: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày (Tại Công văn số 21/VPĐK ngày 05/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q):

  • Về quá trình cấp Giấy chứng nhận cho ông Võ Doãn Đ và bà Võ Thị L tại thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Căn cứ Báo cáo số 82/BC-CNVPĐK ngày 26/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q (sau đây gọi là Chi nhánh Q) và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận được lưu trữ tại Chi nhánh Q thì: Ông Võ Doãn Đ tách thửa đất số 367, tờ bản đồ số 12, diện tích 770m² (đất ở 200m²; đất HNK 570m², A (thửa đất được UBND huyện Q ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành B 77016, số vào sổ 07136, ngày 20/10/1992) thành 02 thửa đất và tặng cho 01 thửa đất, cụ thể:

  • Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 12, diện tích 308m² (đất ở 80m²; đất HNK 228m²): Võ Doãn Đ và bà Võ Thị L nhận tặng cho quyền sử dụng đất của ông, bà Võ Doãn Đ2 – Võ Thị K theo Hợp đồng số 271/2011 quyển số 01/2010TP/CC-SCT/HĐGD lập tại UBND xã A;
  • Thửa đất số 681, tờ bản đồ số 12, diện tích 342m² (đất ở 120m²; đất HNK 342m²): ông, bà Võ Doãn Đ2 – Võ Thị K.

Ngày 21/9/2011, UBND huyện Q ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận) số phát hành BH 546311, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH00110, thửa đất số 680, tờ bản đồ số 12, diện tích 308m² (đất ở tại nông thôn 80m²; đất trồng cây hàng năm khác 228m²), ông Võ Doãn Đ và bà Võ Thị L.

Cùng ngày, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Q đã xác nhận nội dung biến động thông tin thửa đất số 367, tờ bản đồ số 12 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành B 77016, như sau: Diện tích còn lại là 342m² (đất ở 120m²; đất HNK 342m²), thửa đất số 681, tờ bản đồ số 12, ông, bà Võ Doãn Đ2 – Võ Thị K.

Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 12, diện tích 308m² được đo đạc, chỉnh lý thành thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11, diện tích 330,5m² (đất ở tại nông thôn 80,0m²; đất trồng cây hành năm khác 250,5m²).

Ngày 10/10/2017, UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận số phát hành CD 037794, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH01666, thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11, diện tích 330,5m² (đất ở tại nông thôn 80,0m²; đất trồng cây hành năm khác 250,5m²), ông Võ Doãn Đ và bà Võ Thị L.

  • Về quá trình cấp Giấy chứng nhận cho ông Võ Doãn P và bà Võ Thị T1 tại thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Ngày 29/7/2016, ông Võ Doãn T2 và bà Võ Thị V được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận số phát hành CB 507896, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH00981, thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, diện tích 389,7m² (đất ở tại nông thôn 100,0m²; đất trồng cây hành năm khác 289,7m²).

Ngày 26/7/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q đã chỉnh lý nội dung tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Võ Doãn P và bà Võ Thị T1 đối với thửa đất có thông tin nêu trên tại Giấy chứng nhận số phát hành CB 507896.

Tiếp đó, thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, diện tích 389,7m² được đo đạc, chỉnh lý thành thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, diện tích 350,3m², giảm 39,4m² so với diện tích tại Giấy chứng nhận số phát hành CB 507896 do sai số đo đạc.

Ngày 11/10/2022, ông, bà Võ Doãn P - Võ Thị T1 được Sở T cấp Giấy chứng nhận số phát hành DE 079570, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS03410, thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, diện tích 350,3m² (đất ở tại nông thôn 100,0m²; đất trồng cây hành năm khác 250,3m²).

  • Ý kiến về yêu cầu hủy 02 Giấy chứng nhận số phát hành DE 079570 và CD 037794.

Đối với Giấy chứng nhận số phát hành CD 037794: Giấy chứng nhận này do UBND huyện Q ký. Do đó, Văn phòng Đ không có ý kiến gì thêm.

Đối với Giấy chứng nhận số phát hành DE 079570: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 98, khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013; Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì ông Võ Doãn P và bà Võ Thị Thanh đ điều kiện cấp đổi Giấy chứng nhận. Như vậy, việc Sở T ký cấp Giấy chứng nhận đã nêu là đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật. Nay, ông Võ Doãn P và bà Võ Thị T1 có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận là không có cơ sở. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh tuyên không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Doãn Đ trình bày: Năm 2017 gia đình tôi được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Việc cấp giấy chứng nhận cho gia đình tôi là hoàn toàn hợp pháp và gia đình tôi đã tuân thủ về việc sử dụng đất đai, tài sản gắn liền với đất. Việc cấp giấy chứng nhận cho gia đình tôi là đúng quy định. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án:

  • Tại buổi đối thoại ngày 04/4/2024, người khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thống nhất với nhau như sau: về ranh giới thửa đất 1100 và 1054: lấy tim hàng rào từ phía trước tới tim hàng rào phía sau.
  • Tại Công văn số 374/VPĐK ngày 22/4/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q (là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện) trả lời như sau: Theo nội dung Công văn số 66/CV-HC, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh, thì ranh giới phân chia thửa đất giữa gia đình ông Võ Doãn P và gia đình ông Võ Doãn Đ được xác định là hàng rào do 02 bên cùng xây dựng từ trước khi thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận và không thống nhất với ranh giới thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận cho 02 hộ gia đình.

Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ cấp Giấy chứng nhận tại thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, xã A qua các thời kỳ, thì kích thước cạnh phía Đông – Bắc thuộc thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, xã A đã có sự biến động từ 17,05m (thời điểm cấp Giấy chứng nhận năm 2016) thành 13,69m (thời điểm cấp Giấy chứng nhận năm 2022). Sự thay đổi kích thước này thống nhất với hồ sơ địa chính xã A đã được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt năm 2006 và năm 2018; nhưng không đúng với thực tế (kết quả thẩm định thực tế đã nêu), là không phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất, không đúng quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3.

Do vậy, căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, Giấy chứng nhận số phát hành DE 079570, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS03410, thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, diện tích 350,3m² (đất ở tại nông thôn 100,0m²; đất trồng cây hành năm khác 250,3m²) do Sở T cấp cho ông, bà Võ Doãn P - Võ Thị T1 ngày 11/10/2022 là không đúng đối tượng sử dụng đất, diện tích sử dụng đất và thuộc trường hợp phải thu hồi Giấy chứng nhận.

Tuy nhiên, do thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, xã A đã biến động thay đổi chủ sử dụng đất (do thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất) từ ông, bà Võ Doãn T2 – Võ Thị V (năm 2016) thành ông, bà Võ Doãn P - Võ Thị T1 (ngày 26/7/2022), nên Văn phòng Đăng ký đất đai không có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận số phát hành DE 079570 (theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 87 và khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 26 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ).

Tại phiên toà sơ thẩm:

Đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện, đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đề nghị Toà án xem xét công nhận ranh giới giữa hai thửa đất như thoả thuận tại buổi đối thoại ngày 04/4/2024 để các hộ gia đình được cấp lại giấy chứng nhận theo đúng hiện trạng sử dụng đất.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình trình bày quan điểm:
  • Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Tòa án xử chấp nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện. Ngoài ra đề nghị Toà án tuyên về án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thời hiệu khởi kiện: ngày 11/10/2022, ông, bà Võ Doãn P - Võ Thị T1 được Sở T cấp Giấy chứng nhận số phát hành DE 079570, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS03410, thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11 (là đối tượng khởi kiện trong vụ án). Ngày 01/10/2023, ông Võ Doãn P làm đơn khởi kiện vụ án hành chính (được Toà án nhân dân tỉnh xác nhận nhận đơn vào ngày 03/10/2023). Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

[1.2] Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp cho ông Võ Doãn P, bà Võ Thị T1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp cho ông Võ Doãn Đ, bà Võ Thị L là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 3, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về nội dung:

Căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/3/2024 và ý kiến của người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: ông Võ Khắc H, ý kiến của người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Võ Doãn Đ1 thì xác định được ranh giới giữa thửa đất số 1100 và thửa đất số 1054 là hàng rào do các bên cùng xây dựng từ lâu trước khi cấp đổi lại các giấy chứng nhận trên.

Tại Công văn số 374/VPĐK ngày 22/4/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q cũng khẳng định: “kích thước cạnh phía Đông - Bắc thuộc thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, xã A đã có sự biến động từ 17,05m (thời điểm cấp Giấy chứng nhận năm 2016) thành 13,69m (thời điểm cấp Giấy chứng nhận năm 2022). Sự thay đổi kích thước này thống nhất với hồ sơ địa chính xã A đã được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt năm 2006 và năm 2018; nhưng không đúng với thực tế (kết quả thẩm định thực tế đã nêu), là không phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất, không đúng quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3. Do vậy, căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, Giấy chứng nhận số phát hành DE 079570, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS03410, thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, diện tích 350,3m² (đất ở tại nông thôn 100,0m²; đất trồng cây hành năm khác 250,3m²) do Sở T cấp cho ông, bà Võ Doãn P - Võ Thị T1 ngày 11/10/2022 là không đúng đối tượng sử dụng đất, diện tích sử dụng đất và thuộc trường hợp phải thu hồi Giấy chứng nhận”.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1100 và thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11 là không đúng thực tế, không đúng đối tượng sử dụng đất, diện tích sử dụng đất nên cần huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1100 và số 1054, tờ bản đồ số 11 để cấp lại theo đúng hiện trạng sử dụng đất. Do đó yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có cơ sở nên cần chấp nhận.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: các đương sự không có ý kiến nên không xem xét.

[4] Về án phí: Đơn khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 3, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348, khoản 1 Điều 358 Luật Tố tụng hành chính; điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Doãn P:

  • Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DE 079570, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS03410, thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, diện tích 350,3m² (đất ở tại nông thôn 100,0m²; đất trồng cây hành năm khác 250,3m²) mang tên ông Võ Doãn P và bà Võ Thị T1.

Ông Võ Doãn P, bà Võ Thị T1 có quyền liên hệ với các cơ quan chuyên môn để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích từ các điểm có tọa độ như sau: điểm 2 có tọa độ: X: 1914984.99, Y: 571114.20; điểm 3 có tọa độ: X: 1914978.47, Y: 571129.22; điểm 4 có tọa độ: X: 1914956.10, Y: 571120.19; điểm 5 có tọa độ: X: 1914962.68, Y: 571106.07 (sơ đồ kèm theo Bản án).

  • Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CD 037794, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH01666, thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11, diện tích 330,5m² (đất ở tại nông thôn 80,0m²; đất trồng cây hành năm khác 250,5m²), mang tên ông Võ Doãn Đ và bà Võ Thị Lương

Ông Võ Doãn Đệ, bà Võ Thị L có quyền liên hệ với các cơ quan chuyên môn để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích từ các điểm có tọa độ như sau: điểm 1 có tọa độ: X: 1914990.05, Y: 571104.07; điểm 2 có tọa độ: X: 1914984.99, Y: 571114.20; điểm 5 có tọa độ: X: 1914962.68, Y: 571106.07; điểm 6 có tọa độ: X: 1914968.50, Y: 571093.54 (sơ đồ kèm theo Bản án).

2. Về án phí: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông Võ Doãn P số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004751 ngày 04/12/2023.

3. người khởi kiện có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • Cục THADS tỉnh Quảng Bình;
  • Các đương sự;
  • Lưu: Toà HC; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HC-ST ngày 03/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 08/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger