TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 7 - 2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Biền Ngân
- Ông Hoàng Anh Huê
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Phan Văn N, sinh năm 1971 theo bản sao Trích lục kết hôn và sinh năm 1972 theo Căn cước công dân.
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1975
Địa chỉ: Xóm C, thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm C, thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 08/4/2024, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn anh Phan Văn N trình bày: Anh Phan Văn N và chị Nguyễn Thị T có quá trình tìm hiểu tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 04/7/1997. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu tính tình, bất đồng quan điểm vì vậy chị T đã bỏ đi làm ăn và vợ chồng đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Nay anh N thấy vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm được nữa và để giải thoát cho nhau nên anh N có nguyện vọng yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Phan Thị Thanh N1, sinh ngày 19/3/1998 và Phan Tiến T1, sinh ngày 02/11/2003. Hiện nay các con đều đã trưởng thành, sống tự lập và có công việc riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong đơn đơn xin xét xử vắng mặt ngày 03/6/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Phan Văn N có quá trình tìm hiểu tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 04/7/1997. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu tính tình, không có sự tin tưởng tôn trọng nhau. Tình trạng mâu thuẩn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay đã 13 năm, quá trình sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Hiện nay chị T thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã quá căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn chấm dứt tình trạng hôn nhân với anh Phan Văn N. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là là Phan Thị Thanh N1, sinh ngày 19/3/1998 và Phan Tiến T1, sinh ngày 02/11/2003. Vì các con đều đã lớn, có khả năng lao động, có việc làm tự nuôi sống bản thân nên chị T không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại do chị T bận công việc và không thể nghỉ được, điều kiện làm ăn ở xa nên không thể có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án. Vì vậy, đề nghị Toà án Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch xem xét cho chị T được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc tại Toà án và xét xử vắng mặt chị T, chị T không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Văn N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T, cư trú tại xóm C, thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, xác định đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị T nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T theo quy định tại các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn N và chị Nguyễn Thị T đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 04/7/1997, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh N và chị T là hôn nhân hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh N và chị T chung sống hạnh phúc một thời gian, tuy nhiên trong thực tế đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Anh N và chị T đều trình bày không còn tình cảm với nhau và mong muốn xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống của bản thân. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh N và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho anh Phan Văn N được ly hôn với chị Nguyễn Thị T là phù hợp với Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh N và chị T đều trình bày vợ chồng có 02 con chung tên là là Phan Thị Thanh N1, sinh ngày 19/3/1998 và Phan Tiến T1, sinh ngày 02/11/2003; các con đều đã trưởng thành, có khả năng lao động, có việc làm tự nuôi sống bản thân nên anh N và chị T không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh N và chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Phan Văn N phải chịu nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phan Văn N được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ con chung: Không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Buộc anh Phan Văn N phải chịu nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Số tiền án phí anh N phải nộp được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch theo biên lai số 0002089 ngày 15/4/2024. Anh N đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/7/2024); bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Sơn |
Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh N làm đơn xin ly hôn chị T