Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HSST

Ngày: 23/04/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng; Nguyễn Tiến Thị

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXHSST – HS, ngày 28 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 08/2024/QĐST, ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 24/10/1998, tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Trần Ngọc X và bà: Nguyễn Thị H (Đã chết); anh em ruột có 4 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ: Trần Thị H1 và 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, từ ngày 22/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà

Người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại: Ông Nguyễn Văn L; sinh ngày: 12 tháng 12 năm 1968; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Công nhân. Có mặt tại phiên toà

Bị đơn dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn T2; Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N; Chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Văn C; Chức vụ: Cán bộ quản lý điều phối xe Công ty trách nhiệm hữu hạn T2; Nơi cư trú: P810-CT8B, tổ B; Khu đô thị Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Ngọc T1; sinh ngày 15 tháng 7 năm 1996; nơi cư trú: Thôn G, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe Công ty trách nhiệm hữu hạn T2; Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc T có giấy phép lái xe ô tô số: [...] hạng C, do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 17/6/2022 (Có giá trị đến ngày 17/6/2027), cùng với Trần Ngọc T1, sinh năm 1996, ở thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An hợp đồng lái xe ô tô cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T2, ở thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, chở hàng chạy theo tuyến Hà Nội đi thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Nhưng vào hồi 08 giờ 56 phút ngày 29/7/2023 tại Km 1115+650, đường Q tỉnh Quảng Ngãi, Trần Ngọc T điều khiển xe ô tô tải (7000Kg) biển kiểm soát 29H-812.59 vi phạm chạy quá tốc độ quy định từ 10Km/h đến 20Km/h, nên ngày 06/8/2023 bị Phòng C1, Công an tỉnh Q ra Quyết định xử phạt, vi phạm hành chính số G01.867.308.025-981-23-004973/QĐ-XPHC, với hình thức xử phạt: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng số [...] hạng C, từ ngày 06/8/2023 đến hết ngày 06/10/2023.

Mặc dù bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe ô tô, thuộc trường hợp không có giấy phép lái xe, nhưng tối ngày 07/8/2023 xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 sau khi bốc hàng xong xuất phát từ thành phố Hà Nội chở hàng vào tỉnh Bình Định, trên đường đi do Trần Ngọc TTrần Ngọc T1 thay nhau điều khiển. Sáng ngày 08/8/2023, khi xe ô tô đi đến địa phận huyện D, tỉnh Nghệ An thì Trần Ngọc T1 dừng xe lại đổ dầu, sau khi đổ dầu xong Trần Ngọc T tiếp tục điều khiển xe ô tô còn T1 ra giường phía sau Ca bin xe ô tô nằm ngủ. Khoảng 08 giờ 28 phút cùng ngày, xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 do Trần Ngọc T điều khiển đi đến K đường Q, thuộc địa phận thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, lúc này phía trước cùng chiều trên làn đường xe cơ giới số 1 bên trái (Làn đường sát với giải phân cách cố định bên trái, tính theo chiều xe ô tô 29H-812.59 chạy) có một chiếc xe kéo tự chế cầm tay, phía sau chiếc xe kéo có gắn biển “Công trường lái xe đi chậm” của chị Biện Thị H2, Công nhân Hạt quản lý đường bộ K, thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn B1, đặt để dọn vệ sinh và làm sạch mặt đường, còn chị Biện Thị H2 đang dọn vệ sinh, làm sạch mặt đường phía trước xe kéo và biển báo khoảng 15 mét. Do buồn ngủ thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ khi có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm và có chướng ngại vật trên đường, nên phía trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 do Trần Ngọc T điều khiển đã đâm vào phía sau xe kéo tự chế cầm tay rồi tiếp tục đâm vào chị Biện Thị H2 làm cho xe kéo cùng với chị H2 ngã xuống mặt đường. Điểm va chạm giữa xe ô tô với xe kéo tự chế cầm tay và với chị H2 ở trên làn đường xe cơ giới số 01 (Làn đường sát với giải phân cách cố định). Hậu quả vụ tai nạn làm chị Biện Thị H2, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh bị chết sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe ô tô bị hư hỏng thiệt hại 22.570.500 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng), xe kéo tự chế cầm tay bị hư hỏng thiệt hại 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Tại biên bản khám nghiện hiện trường và sơ đồ hiện trường phản ánh: vụ tai nạn xảy ra ở Km 557 đường Q, nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, thuộc địa phận thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, giữa xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 với xe kéo tự chế cầm tay và với chị Biện Thị H2. Mặt đường Quốc Lộ A được rải nhựa bằng phẳng và chia thành hai phần đường, ở giữa có giải phân cách cứng cố định. Phần đường bên phải theo hướng xe ô tô 29H-812.59 chạy có tầm nhìn tốt, rộng 9,0m, được kẻ vạch phân cách thành ba làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,50m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m. Phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô 29H-812.59 chạy có 01 biển báo chỉ dẫn người đi bộ qua đường và trên làn đường xe cơ giới số 1 bên trái (Làn đường sát với giải phân cách cố định) có một chiếc xe kéo tự chế cầm tay, phía sau chiếc xe kéo có gắn biển báo “Công trường lái xe đi chậm”. Khoảng hở của dải phân cách cố định có chiều rộng 5,0m.

- Đánh số thứ tự các dấu vết: (1) vết cày mặt đường; (2) vết cày mặt đường; (3) vết trầy xước giải phân cách cố định; (4) xe kéo cầm tay; (5) vùng mãnh vỡ; (6) mãnh vỡ kim loại; (7) thanh sắt; (8) xe ô tô đậu.

- Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km 557 ở bên mép đường Q phía bên phải theo chiều B vào N làm điểm mốc và lấy mép đường Q phía bên phải làm điểm chuẩn, tất cả đều tính theo hướng từ Bắc vào N, các dấu vết để lại hiện trường như sau:

- Mô tả dấu vết hiện trường: Trên phần đường bên phải theo chiều xe ô tô 29H-812.59 chạy có biển báo người đi bộ qua đường và có khoảng hở của giải phân cách cố định dành cho người đi bộ qua đường, khoảng hở có tổng chiều rộng 5,0m. Cách cột mốc Km 557 về hướng Nam 5,10m là biển báo người đi bộ qua đường; cách biển báo người đi bộ qua đường về hướng Nam 16,30m là điểm đầu vết cày mặt đường số (1), đầu vết cày cách mép đường nhựa bên phải 6,0m kéo dài 8,40m, điểm cuối cách mép đường nhựa bên phải 5,10m; cách điểm đầu vết cày mặt đường số (1) về hướng Nam 1,30m là điểm đầu vết cày mặt đường số (2), đầu vết cày mặt đường số (2) cách mép đường nhựa bên phải 6,67m kéo dài 7,90m, điểm cuối vết cày số (2) cách mép đường nhựa bên phải 6,50m; cách điểm đầu vết cày số (2) về hướng Nam 4,37m là điểm đầu vết trầy xước giải phân cách cố định có kích thước 3,38x0,5m, điểm đầu cách mặt đất 0,45m, điểm cuối trùng với mặt đường nhựa; cách điểm cuối vết cày số (2) về hướng Nam 0,48m là tâm bánh xe kéo tự chế cầm tay (4), đầu hướng về Bắc, đuôi hướng về N1, trục bánh xe kéo tự chế cầm tay bên trái cách mép đường nhựa bên phải 6,20m; cách trục bánh xe kéo tự chế cầm tay bên trái về hướng Nam 0,50m là tâm vùng mãnh vỡ (5) kích thước 6,40x2,90m, tâm mãnh vỡ cách mép đường nhựa bên phải 6,34m; cách tâm mãnh vỡ (5) về hướng Nam 6,74m là mãnh vỡ kim loại (6) kích thước 0,38x0,06m, tâm mãnh vỡ cách mép đường nhựa bên phải 7,20m; cách tâm mãnh vỡ (6) về hướng Nam 27,9m là thanh sắt (7), tâm thanh sắt cách mép đường nhựa bên phải 5,10m; cách tâm thanh sắt (7) về hướng N 24m là trục bánh sau bên phải xe ô tô 29H-812.59 liên quan đến tai nạn đậu, đầu xe hướng về N1, đuôi xe hướng ra Bắc, trục bánh sau bên phải cách mép đường nhựa 5,10m, trục bánh trước bên phải cách mép đường nhựa bên phải 5,30m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện phản ánh:

+ Tại biên bản khám xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh: Ốp nhựa phía bên trái đầu xe, vị trí phía bên đèn xi nhan có vết trượt xước kim loại, bám chất màu đỏ dạng sơn, kích thước 12cmx04cm, tâm dấu vết trượt xước cách mặt đất 130cm; đèn xi nhan phía trước bên trái bị vỡ nhựa kích thước 11cmx07cm, tâm cách mặt đất 128cm; góc bên trái ba đờ xốc phía trước bị gãy rời khỏi phương tiện kích thước gãy 60cmx55cm; đèn chiếu sáng phía trước bên trái bị trượt xước bám dính chất màu đỏ dạng sơn kích thước 38cmx10cm, tâm cách mặt đất 77cm, chiều hướng từ trước ra sau, trên xuống dưới; góc bên trái thanh kim loại gắn ba đờ xốc có vết trượt xước, cong gập trên bề mặt bám dính chất màu đỏ, trắng dạng sơn, kích thước 39cmx24cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cách mặt đất 60cm; đèn gầm phía trước bên trái bị gãy vỡ bung rời khỏi vị trí ban đầu, bàn dâm chân lên xuống phía trước bên trái của ca bin bị cong gập, gãy trượt xước bám dính chất màu trắng kích thước 34cmx39cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cách mặt đất 37cm; ống kim loại gắn bàn dậm chân lên xuống phía trước bên trái của ca bin bị cong gặp, trượt xước kim loại kích thước 20cmx06cm.

+ Tại biên bản khám xe kéo tự chế cầm tay: Xe kéo tự chế cầm tay dạng hai bánh có thùng xe được làm bằng kim loại, chiều dài thùng xe 150cm, chiều rộng thùng xe 85cm, lòng trong thùng xe cao 26cm, vành xe đường kính 35cm, tâm bánh xe cách thành trước 70cm, chân chống trước của xe cao 30cm, càng xe bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, tay cầm bằng kim loại gãy rời khỏi phương tiện. Tại góc bên trái của tay cầm có dấu vết trượt xước kim loại kích thước 35cmx09cm; mặt phía trước thanh kim loại phía trên, trước thùng xe bị cong gập trượt xước kim loại, kích thước 40cmx05cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 60cm; tấm cảnh báo gắn trên thùng xe bị cong gập, trượt mất sơn kích thước 90cmx85cm.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 08/8/2023 và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 760/KL-KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh H xác định: Nạn nhân Biện Thị H2, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, các dấu vết để lại như sau: Vùng thái dương chẩm trái cách sau đỉnh vành tai trái 06cm, cách trên đường chân tóc gáy 07cm có đám sưng nề, bầm tụ máu kích thước 10cmx08cm; trên nền sưng nề có vết thương kích thước 03cmx01cm, bờ mép nham nhở; tràn khí dưới da vùng ngực bên trái; gãy kín cung sau xương sườn số 6, 7, 8, 9 bên trái; vùng hạ sườn trái có đám bầm tụ máu, kích thước 20cmx12cm; vùng hố chậu bên trái và mặt trước 1//3 trên đùi trái có đám xây xát da trên diện 30cmx15cm; gãy kín xương cánh chậu bên trái; mặt sau khuỷu tay trái có vết xây xát da, kích thước 03cmx01cm; mặt trước gối phải có vết xây xát da, kích thước 02cmx01cm; mặt trước cẳng chân trái có vết bầm tụ máu, kích thước 10cmx03cm. Giải phẩu vùng đầu: dưới da đầu vùng thái dương chẩm trái tụ máu; xương hộp sọ bị vỡ. Nguyên nhân chết xác định đa chấn thương.

* Kết quả định giá thiệt hại tài sản:

Theo kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 bị hư hỏng, thiệt hại 22.570.500 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe kéo cầm tay tự chế bị hư hỏng, thiệt hại xe kéo cầm tay bị hư hỏng thiệt hại 600.000 đồng.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ xử lý vật chứng gồm:

  • - 01 xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59, đã qua sử dụng; 01 giấy biên nhận giữ bản chính, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển kiểm soát 29H-812.59; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô 29H-812.59, thu của Trần Ngọc T, nay đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty trách nhiệm hữu hạn T2 do anh Nguyễn Văn C, đại diện theo uỷ quyền nhận.
  • - 01 xe kéo cầm tay tự chế, thu tại hiện trường, nay đã trả lại cho đại diện người bị hại là ông Nguyễn Văn L.
  • - 01 giấy phép lái xe số [...] hạng C, do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 17/6/2022, mang tên Trần Ngọc T, chuyển theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 của Công ty trách nhiệm hữu hạn T2 bị hư hỏng gây thiệt hại 22.570.500 đồng, tuy nhiên Công ty TNHH T2 không yêu cầu bị cáo Trần Ngọc T phải bồi thường.

Bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thoả thuận: Bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại là 235.000.000 đồng, bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng cho con của bị hại (Nguyễn Thị Như Q), tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại, tiền bồi thường thiệt hại cho tài sản của bị hại bị hư hỏng. Đại diện hợp pháp bị hại đã nhận đủ số tiền 235.000.000 đồng. Ngoài ra đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Văn L không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT- VKSKA ngày 26 tháng 02 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Ngọc T mức án từ 24 đến 30 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử: Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc T 01 giấy phép lái xe số [...] hạng C, do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 17/6/2022, mang tên Trần Ngọc T.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Trần Ngọc T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi Trần Ngọc T (Không có giấy phép lái xe hợp lệ), điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 chạy trên đường Q, theo hướng từ Bắc vào N, khi đi đến K đường Q, (Nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm và có chướng ngại vật trên đường), thuộc địa phận thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do buồn ngủ thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ khi có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm và có chướng ngại vật trên đường, nên phía trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 29H-812.59 đã đâm vào phía sau xe kéo tự chế cầm tay rồi tiếp tục đâm vào chị Biện Thị H2, trên làn đường xe cơ giới thứ nhất của phần đường bên phải (tính theo hướng từ Bắc vào N) đã vi phạm khoản 1, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và vi phạm khoản 9, Điều 8 Luật giao thông đường bộ, hậu quả chị Biện Thị H2 bị chết.

Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Trần Ngọc T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không có gì oan sai.

[3] Trong vụ án này lỗi thuộc về bị cáo Trần Ngọc T điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không tập trung, điều khiển xe ô tô trong tình trạng buồn ngủ, thiếu chú ý quan sát, không chấp hành biển cảnh báo nguy hiểm và khi có chướng ngại vật trên đường dẫn đến gây ra vụ tai nạn, gây hậu quả nghiêm trọng (làm chết 01 người), thể hiện ý thức chủ quan, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, nên cần phải được xử lý nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử cần căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đảm bảo nghiêm.

[7] Về dân sự: Bị cáo và đại diện gia đình hợp pháp bị hại đã thoả thuận: Bị cáo thoả thuận bồi thường cho gia đình bị hại là 235.000.000 đồng, bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng cho con của bị hại, tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại, tiền bồi thường thiệt hại cho tài sản của bị hại bị hư hỏng. Đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhân đủ số tiền bồi thường. Tại phiên toà hôm nay, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn L không yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử miễn xét.

[8] Trong vụ án này Trần Ngọc T1 là người điều khiển xe ô tô đi cùng với Trần Ngọc T rồi giao xe ô tô 29H-812.59 cho Trần Ngọc T điều khiển gây tai nạn, quá trình điều tra đã chứng minh khi giao xe T1 không chủ động giao xe và không biết Trần Ngọc T bị tước giấy phép lái xe, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với anh Nguyễn Văn C là người quản lý và điều hành chiếc xe ô tô, biển kiểm soát 29H-812.59. Quá trình điều tra xác định anh C không có lỗi trong việc để cho Trần Ngọc Trung lưu h xe trên đường gây tai nạn, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[9] Vật chứng vụ án:

- Các phương tiện giao thông đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 giấy phép lái xe số [...] hạng C, do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 17/6/2022, mang tên Trần Ngọc T, nay chuyển theo hồ sơ vụ án, căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần phải trả lại cho Trần Ngọc T.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt Trần Ngọc T 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
  3. Về vật chứng vụ án: Trả lại cho Trần Ngọc T 01 giấy phép lái xe số [...] hạng C, do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 17/6/2022, mang tên Trần Ngọc T. (Giấy phép kèm theo hồ sơ vụ án).
  4. Về án phí: Xử buộc Trần Ngọc T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an Hà Tĩnh (PV 06)
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an huyện Kỳ Anh (2 bản);
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn, HS vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 08/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger