|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 08/2024/KDTM-ST Ngày: 16/4/2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân Mai và bà Dương Thị Kim Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 16/4/2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 16/2022/TLST- KDTM ngày 16/12/2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST - KDTM ngày 21/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QĐST-HPT ngày 19/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C2 (V1);
Địa chỉ: A T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
+ Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Chu Văn H – Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh thành phố H.
- Ông Trần Anh D - Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh thành phố H.
Theo văn bản ủy quyền số: 1644/UQ-HĐQT-PCTT1, ngày 30/12/2022 của Ông Trần Minh B – Chức vụ Chủ tịch HĐQT.
+ Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:
- Ông Nguyễn Sơn H1 – Phó Phòng Tổng hợp, Bà Bùi Thị Thu H2 – CB phòng Tổng hợp, Ông Nguyễn Quang N – CB phòng Tổng hợp, Bà Vũ Thị Trung A – CB phòng Tổng hợp.
Theo văn bản ủy quyền số: 1644/UQ-HĐQT-PCTT1, ngày 30/12/2022 của Ông Trần Minh B – Chức vụ Chủ tịch HĐQT.
- Bị đơn: Công ty TNHH V2.
Địa chỉ: Khu B, thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Quang C - Giám đốc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn H3, sinh năm 1970.
- Bà Nguyễn Thị Minh L, sinh năm 1984.
- Ông Phạm Văn C1, sinh năm 1973.
- Anh Phạm Quốc D1, sinh năm 1996.
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1998.
Trú tại: Tổ H, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiện đang bị tạm giam tại Công an C, tỉnh Lạng Sơn.
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
Đều trú tại: Tổ H, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Sơn H1 và bà Vũ Thị Trung A có mặt; các đương sự khác đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày có nội dung được tóm tắt như sau:
1. Về nội dung Hợp đồng: Ngày 30/9/2020 Ngân hàng TMCP C2 (V1) – Chi nhánh H và Công ty TNHH V2 đã ký Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020.
Mục đích cho vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hạn mức cho vay là 5.000.000.000 VNĐ.
Lãi suất cho vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là: 9%/năm.
Lãi suất đối với dư nợ gốc bị quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Lãi suất chậm trả lãi bằng 10%năm (theo khoản 2.01 Điều 2 Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020.
+ Tại giấy nhận nợ số: 01 ngày 16/10/2020 với nội dung cụ thể như sau:
- Công ty TNHH V2 nhận nợ số tiền: 580.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Thanh toán tiền cho công ty cổ phần T1 theo hóa đơn số 0000021 ngày 28/9/2020
- Thời hạn vay: 05 tháng kể từ ngày nhận nợ.
- Ngày giải ngân: 16/10/2020
- Ngày trả nợ: 16/3/2021
- Thời hạn trả nợ: 05 tháng kể từ ngày nhận nợ.
- Lãi suất cho vay trong hạn: 7,5%/năm.
- Phí trả nợ trước hạn: 2%/năm x số tiền trả nợ trước hạn.
+ Tại giấy nhận nợ số: 02 ngày 19/03/2021 với nội dung cụ thể như sau:
- Công ty TNHH V2 nhận nợ số tiền: 587.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Thanh toán một phần tiền cho CTCP truyền thông T2 theo HĐ số: 1203/HĐKT/2021/NEW-TP ngày 25/01/2021.
- Ngày giải ngân: 19/3/2021.
- Ngày trả nợ: 19/8/2021.
- Thời hạn trả nợ: 05 tháng kể từ ngày nhận nợ.
- Lãi suất cho vay trong hạn: 7,5%/năm.
- Phí trả nợ trước hạn: 2%/năm x số tiền trả nợ trước hạn.
Lãi suất áp dụng Chương trình Đồng hành cùng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ 2019, nhóm khách hàng hiện hữu mức sàn chương trình, ưu đãi 5 tháng. Hết thời hạn áp dụng Chương trình tín dụng hoặc khi khi bên vay không đáp ứng điều kiện của Chương trình... thì lãi suất được xác định theo quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020- HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020 (9.0%/năm)
Tài sản đảm bảo:
Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thị xã P (nay là T), tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L, đã thế chấp tại ngân hàng theo HĐTC 01/2020/HĐBĐ/NHCT106/NEWMEDIA01; số công chứng: 1755; Quyển số 19/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/09/2020 tại Văn phòng C3, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thanh toán hết khoản vay theo giấy nhận nợ số: 01 ngày 16/10/2020. Tuy nhiên sau khi vay khoản vay theo giấy nhận nợ số: 02 ngày 19/03/2021 bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, cụ thể như sau:
Kỳ trả nợ lãi ngày 25/04/2021 đến kỳ 25/06/2021, Công ty TNHH V2 liên tục chậm trễ trong quá trình thực hiện việc trả nợ, kỳ trả nợ lãi ngày 25/7/2021 Công ty đã không thực hiện trả nợ. Ngày 19/08/2021, khoản vay đến hạn trả nợ gốc nhưng Công ty đã không thực hiện đúng cam kết trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020 cùng giấy nhận nợ số: 02.
Căn cứ Điều 7, Điều 8 và các điều khoản khác của Hợp đồng tín dụng số 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán khi không trả nợ Ngân hàng.
Tạm tính đến ngày 16/4/2024 bị đơn đã trả ngân hàng V1 - CN TP Hà Nội tổng số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 18.202.495 đồng.
Tính đến ngày 16/4/2024, tổng dư nợ của Công ty TNHH V2 tại V1 - C4 là: 766.592.880 đồng, cụ thể như sau:
- Nợ gốc: 547.000.000 đồng
- Nợ lãi trong hạn: 136.293.067 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 66.633.534 đồng
- Lãi phạt quá hạn: 16.666.279 đồng ỉ: số 84 ngõ 41 Thái Hà, phường trung liệt, quận Đống Đa, TP
Quá trình đôn đốc thu nợ:
Kể từ khi phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh T đã thường xuyên đôn đốc, yêu cầu Công ty TNHH V2 trả nợ nhưng khách hàng đã không hợp tác, Ngân hàng đã có những buổi làm việc với bên vay và bên thế chấp và gửi các thông báo đôn đốc nợ. Mặc dù Công ty TNHH V2 cam kết nhiều lần về việc trả nợ nhưng tính đến thời điểm này không thực hiện bất kỳ cam kết nào.
2. Yêu cầu của Ngân hàng:
2.1. Ngân hàng TMCP C2 khởi kiện Công ty TNHH V2 v/v không trả nợ tiền vay theo Hợp đồng cho vay số 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020.
2.2. Buộc Công ty TNHH V2 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc tính đến ngày 16/4/2024 và số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn, lãi phạt phát sinh sau ngày 16/4/2024(kể cả lãi chậm Thi hành án) cho Ngân hàng TMCP C2.
Tổng dư nợ tính đến ngày 16 tháng 4 năm 2024 là: 766.592.880 đồng, cụ thể như sau:
- Nợ gốc: 547.000.000 đồng
- Nợ lãi trong hạn: 136.293.067 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 66.633.534 đồng
- Lãi phạt quá hạn: 16.666.279 đồng ỉ: số 84 ngõ 41 Thái Hà, phường trung liệt, quận Đống Đa, TP
2.3 Trong trường hợp Công ty TNHH V2 không trả được nợ, Ngân hàng TMCP C2 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh căn cứ các quy định của pháp luật, tuyên Ngân hàng TMCP C2 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền theo quy định của pháp luật phát mại các tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay của Công ty TNHH V2 là:
Toàn bộ giá trị Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thị xã P (nay là T), tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L, đã thế chấp tại ngân hàng theo HĐTC 01/2020/HĐBĐ/NHCT106/NEWMEDIA01, số công chứng: 1755; Quyển số 19-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/09/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/09/2020 tại Văn phòng C3, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trường hợp số tiền thu từ phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH V2 thì Công ty TNHH V2 phải dùng các tài sản khác thuộc sở hữu của mình để trả đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP C2.
* Tại bản tự khai đại diện bị đơn ông Tạ Quang C trình bày có nội dung được tóm tắt như sau:
Để có nguồn tài chính duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh công ty có ký Hợp đồng tín dụng số: 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020 với Ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh T và sử dụng tài sản đảm bảo là Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thị xã P (nay là T), tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643; ông thừa nhận tổng số dư nợ như ngân hàng trình bày là đúng, tạm tính đến ngày 01/11/2022, tổng dư nợ của bên công ty là: 664.661.636 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 547.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 34.874.112. đồng và nợ lãi quá hạn: 62.787.524 đồng. Do tình hình kinh doanh khó khăn nên công ty chưa có nguồn tài chính để thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm của mình theo hợp đồng. Công ty rất mong muốn ngân hàng tạo điều kiện cho công ty tiếp tục trả nốt số tiền còn nợ trong quý I năm 2024 do nguồn tài chính từ công việc kinh doanh của công ty khi đó mới hoạt động trở lại.
* Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh L trình bày có nội dung được tóm tắt như sau:
Vợ chồng ông bà có ký hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất với Ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh T để đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020 của Công ty TNHH V2 do ông Lê Tiến T làm giám đốc; công ty vay được số tiền trên, chị không biết vay bao nhiêu nhưng chị được cầm số tiền là 500.000.000 đồng để trả nợ; tài đảm bảo là quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L. Nay ngân hàng khởi kiện buộc Công ty TNHH V2 phải trả số tiền tạm tính đến hết ngày 05/01/2023 tổng số tiền là 658.498.805 đồng bà thừa nhận là đúng và đề nghị ngân hàng cho bị đơn miễn giảm lãi và trả nợ dần.
* Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Phạm Văn H3 trình bày có nội dung được tóm tắt như sau: Vợ chồng ông có ký hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất với Ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh T để đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020 của Công ty TNHH V2, tài đảm bảo là quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thị xã P (nay là T), tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L, đất có diện tích 353,3m², tại thửa số 15, tờ bản đồ số 4. Sau khi ký hợp đồng thế chấp, ngân hàng giải ngân cho công ty TNHH V2 ông không được biết. Nay ngân hàng khởi kiện buộc Công ty TNHH V2 phải trả số tiền tạm tính đến hết ngày 05/01/2023 tổng số tiền là 658.498.805 đồng ông đề nghị ngân hàng cho bị đơn miễn lãi để công ty trả nợ lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Chữ ký và điểm chỉ trong hợp đồng thế chấp là của ông và bà L, ông không có ý kiến thắc mắc gì. Ông đề nghị phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt ông nhưng phiên tòa xét xử phải có mặt ông.
* Tại Biên bản ghi lời khai và các biên bản làm việc tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Phạm Văn C1 trình bày có nội dung được tóm tắt như sau: Hiện nay gia đình ông gồm ông và con trai Phạm Quốc D1, con dâu Nguyễn Thị M đang ở nhờ trên thửa đất thế chấp; ông và cháu D1 đã ở từ lâu, còn cháu M mới về đây ở từ năm 2018 sau khi kết hôn với cháu D1. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông đã nhận được các văn bản tố tụng từ lâu nhưng do bận làm ăn nên không lên Tòa làm việc được. Căn nhà cũ xây từ năm 1995; Công trình phụ (bếp và phòng vệ sinh) do gia đình ông đã làm trên thửa đất thế chấp vào khoảng đầu năm 2017 và gian nhà ngang lợp bloxi măng làm cũng vào khoảng đầu năm 2020, do cháu D1 và cháu M xây dựng, tức là làm trước khi thế chấp với ngân hàng; còn mái tôn trước căn nhà ngang (xây dựng đầu năm 2020) cũng do các cháu làm đầu năm 2023, tức là làm sau khi thế chấp với ngân hàng nhằm mục đích sử dụng, che mưa, che nắng sân của gia đình có diện tích như theo biên bản thẩm định tài sản. Nay ngân hàng đang khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với công ty TNHH V2; ông đề nghị tòa án giải quyết theo pháp luật và không có đề nghị gì khác.
* Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Quốc D1 và chị Nguyễn Thị M. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, nên không có quan điểm về việc giải quyết vụ án. Việc triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đúng quy định tại Điều 173, 174, 175, 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật. Riêng việc tống đạt các văn bản tố tụng cho V sát và đương sự của Tòa án chậm so với quy định; thời hạn đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu của Tòa án chậm, đề nghị Tòa án rút kinh nghiệm.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tham gia tố tụng là bị đơn chưa chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ và lời khai của các đương sự tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng:
- Các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 466 và Điều của Bộ luật dân sự 2015;
- Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;
Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C2.
Buộc Công ty TNHH V2 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP C2 tổng số tiền nợ gốc tính đến ngày 16/4/2024 là 547.000.000 đồng và lãi trong hạn, lãi quá hạn theo quy định.
Trường hợp Công ty TNHH V2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP C2 có quyền yêu cầu kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thị xã P (nay là T), tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L.
Trong trường hợp tài sản phát mại không đủ để trả nợ thì Công ty TNHH V2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP C2.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và thẩm quyền: Ngày 16/12/2022, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội thụ lý vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C2 (V1) với bị đơn Công ty TNHH V2; địa chỉ công ty: Khu B, thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh thành phố Hà Nội thụ lý vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị đơn Công ty TNHH V2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Minh L và ông Phạm Văn C1 có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Quốc D1 và chị Nguyễn Thị M và ông Phạm Văn H3 vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo triệu tập đương sự, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Căn cứ vào khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên theo quy định của pháp luật.
[2] Về hợp đồng: Ngân hàng TMCP C2 (V1) – Chi nhánh H và Công ty TNHH V2 đã ký Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020 như sau:
Mục đích cho vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hạn mức cho vay là 5.000.000.000 VNĐ.
Lãi suất cho vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là: 9%/năm.
Lãi suất đối với dư nợ gốc bị quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Lãi suất chậm trả lãi bằng 10%năm (theo khoản 2.01 Điều 2 Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020.
Tại giấy nhận nợ số: 02 ngày 19/03/2021 với nội dung cụ thể như sau:
- Công ty TNHH V2 nhận nợ số tiền: 587.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Thanh toán một phần tiền cho CTCP truyền thông T2 theo HĐ số: 1203/HĐKT/2021/NEW-TP ngày 25/01/2021.
- Ngày giải ngân: 19/3/2021.
- Ngày trả nợ: 19/8/2021.
- Thời hạn trả nợ: 05 tháng kể từ ngày nhận nợ.
- Lãi suất cho vay trong hạn: 7,5%/năm.
- Phí trả nợ trước hạn: 2%/năm x số tiền trả nợ trước hạn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nội dung hợp đồng tín dụng phù hợp với nhu cầu của bên vay và điều kiện kinh doanh của bên cho vay; việc ký các hợp đồng tín dụng kèm theo giấy nhận nợ trên được nguyên đơn và bị đơn ký kết trên cơ sở tự nguyện; chủ thể ký kết là người có đủ năng lực pháp luật, đủ thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật; nội dung và hình thức không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có giá trị pháp lý, có căn cứ, cần được chấp nhận và có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã không trả được nợ, lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn. Riêng tại giấy nhận nợ số: 01 ngày 16/10/2020, bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ nên không xem xét.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:
* Về tiền nợ gốc: Tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH Văn hóa Truyền thông NEW phải thanh toán nợ cho Ngân hàng V1 tổng số tiền nợ gốc tính đến hết ngày 16/4/2024 là: 547.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng; giấy nhận nợ tính đến hết ngày 16/4/2024 bị đơn đã trả được cho nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng, ngoài ra còn trả được 18.202.495 đồng tiền lãi. Do bị đơn đã không trả được nợ, lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng; giấy nhận nợ trên thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả khoản tiền gốc vay còn lại là 547.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.
* Về tiền nợ lãi: Nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải trả nợ tiền lãi tạm tính đến hết ngày 16/4/2024 số tiền là: 219.592.880 đồng; trong đó nợ lãi trong hạn: 136.293.067 đồng, nợ lãi quá hạn: 66.633.534 đồng và lãi phạt quá hạn 16.666.279 đồng. Căn cứ vào thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ thì lãi suất cho vay trong hạn là 7,5%/năm và 9%/năm(từ ngày 26/4/2021 lãi sất đã chuyển từ 7,5%/năm lên 9%/năm); lãi suất quá hạn là: 150% lãi suất trong hạn. Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phải chịu tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả (khoản vay đã chuyển quá hạn từ ngày 30/8/2021).
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết, nguyên đơn đã cung cấp bảng kê tính lãi; các Quyết định điều chỉnh lãi suất qua các thời kỳ thay đổi lãi suất theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng; giấy nhận nợ. Thấy rằng: Về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn qua xem xét thấy quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng V1 và Công ty TNHH V2 là tranh chấp hợp đồng tín dụng nên cần áp dụng các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các hướng dẫn liên quan để giải quyết tranh chấp này. Thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng về lãi là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật; việc tính toán toàn bộ số tiền lãi vay của nguyên đơn đối với bị đơn là đúng quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.
* Về lãi phát sinh: Ngân hàng V1 yêu cầu kể từ ngày
17/4/2024, Công ty TNHH V2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng; giấy nhận nợ đã ký kết với V1 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; lời khai của Ngân hàng V1. Nhận thấy: Số tiền nợ lãi trên Ngân hàng V1 mới yêu cầu tính đến hết ngày 16/4/2024. Nay Ngân hàng V1 tiếp tục yêu cầu Công ty TNHH V2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Yêu cầu của ngân hàng là phù hợp theo quy định của pháp luật và đúng với các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu lãi phát sinh từ ngày 17/4/2024.
* Về lãi chậm trả lãi: Ngân hàng V1 yêu cầu
Công ty TNHH V2 còn phải chịu khoản tiền Lãi suất chậm trả lãi bằng 10%năm trên số nợ lãi chậm trả theo thỏa thuận tại tại hợp đồng tín dụng; giấy nhận nợ đã ký kết với V1 tính đến hết ngày 16/4/2024 là 16.666.279 đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; lời khai của Ngân hàng V1 và quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Nhận thấy: Số tiền Lãi suất chậm trả lãi trên Ngân hàng V1 yêu cầu bị đơn phải chịu là phù hợp theo quy định của pháp luật và đúng với các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu lãi Lãi suất chậm trả lãi của nguyên đơn đối với bị đơn.
[4] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Ngân hàng V1 yêu cầu nếu Công ty TNHH V2 không trả được nợ vay, Ngân hàng V1 có quyền phát mại, xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.
* Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020; Giấy nhận nợ số 02 ngày 19/03/2021 của Công ty TNHH V2.
HĐTC 01/2020/HĐBĐ/NHCT106/NEWMEDIA01; số công chứng: 1755; Quyển số 19/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/09/2020 tại Văn phòng C3, tỉnh Vĩnh Phúc
Ngày 29/09/2020 Ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L đã ký hợp đồng thế chấp tài sản cho Ngân hàng V1 tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thị xã P (nay là T), tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L, đã thế chấp tại ngân hàng theo HĐTC 01/2020/HĐBĐ/NHCT106/NEWMEDIA01, số công chứng: 1755; Quyển số 19-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/09/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/09/2020 tại Văn phòng C3, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thời điểm ký hợp đồng thế chấp các bên đều có năng lực hành vi dân sự, tự nguyện tham gia ký kết, hình thức và nội dung theo đúng quy định của Bộ luật dân sự và được đăng ký giao dịch bảo đảm, nên các bên phải có nghĩa vụ thi hành.
Căn cứ vào điểm a khoản 5.01 Điều 5 của Hợp đồng thế chấp nêu trên, đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tính dụng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng V1 là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với tài sản thế chấp, qua xem xét, thẩm định tại chỗ xác định: 01 mái tôn do gia đình vợ chồng anh D1 và chị M là con ông C1 làm vào khoảng đầu năm 2023, có diện tích 20m² (ký hiệu T2) là tài sản phát sinh sau khi thế chấp với ngân hàng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo điểm b khoản 4.09 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp tài sản số: HĐTC 01/2020/HĐBĐ/NHCT106/NEWMEDIA01, số công chứng: 1755; Quyển số 19-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/09/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/09/2020 tại Văn phòng C3, tỉnh Vĩnh Phúc thì vật phụ, cây trồng, trang thiết bị kèm theo, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với thửa đất, tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp. Mọi tài sản gắn liền với tài sản thế chấp trước và trong quá trình xử lý tài sản thế chấp và bên nhận thế chấp được quyền xử lý, cho dù tài sản đó tồn tại trước hay sau thời điểm ký kết hợp đồng này, cho dù tài sản đó do bên thế chấp đầu tư, cải tạo, xây dựng thêm hay cho phép bên thứ 3 đầu tư, cải tạo, xây dựng thêm. Do vậy, những tài sản trên thửa đất thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:
Ngân hàng V1 yêu cầu Công ty TNHH V2 trả tổng số tiền là 766.592.880 đồng và được Tòa án chấp nhận. Tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 34.664.000 đồng.
- Công ty TNHH V2 phải chịu toàn bộ án phí sung quỹ nhà nước.
- Ngân hàng V1 không phải chịu án phí nên được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Các Điều 299, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;
Các Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án".
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 đối với Công ty TNHH V2.
1. Buộc Công ty TNHH V2 phải có trách nhiệm
thanh toán nợ cho Ngân hàng V1 tiền nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020-HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020; Giấy nhận nợ số 02 ngày 19/03/2021 tổng số tiền tính đến hết ngày 16/4/2024 là: 766.592.880 đồng (trong đó: Nợ gốc: 547.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 136.293.067 đồng, nợ lãi quá hạn: 66.633.534 đồng và lãi phạt qua hạn: 16.666.279 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/4/2024) cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH V2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2020- HĐCVHM/NHCT106-NEWMEDIA ngày 30/09/2020; Giấy nhận nợ số 02 ngày 19/03/2021 hai bên đã ký kết.
2. Trong trường hợp Công ty TNHH V2 không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng V1, Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản nợ của Công ty TNHH V2 để thu hồi nợ cho Ngân hàng V1. Tài sản thế chấp bảo đảm là Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Tổ A (nay là tổ H), phường T, thị xã P (nay là T), tỉnh Vĩnh Phúc theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 454176, số vào sổ cấp GCN số CS 000643 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp cho ông Phạm Văn H3 và bà Nguyễn Thị Minh L, đã thế chấp tại ngân hàng theo HĐTC 01/2020/HĐBĐ/NHCT106/NEWMEDIA01, số công chứng: 1755; Quyển số 19-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/09/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/09/2020 tại Văn phòng C3, tỉnh Vĩnh Phúc. Việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Để thu hồi nợ, trong trường hợp tài sản phát mại không đủ để trả nợ thì Công ty TNHH V2 vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng V1. Trường hợp số tiền phát mại tài sản nhiều hơn số tiền phải thanh toán thì được trả cho Công ty TNHH V2 sau khi trừ hết các khoản nợ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
- Công ty TNHH V2 phải chịu 34.664.000 đồng(Ba mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Ngân hàng V1 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo biên lai thu số AA/2020/0020855 ngày 15/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
4. Về quyền kháng cáo:
- Nguyên đơn: Ngân hàng V1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Bị đơn: Công ty TNHH V2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Việt Phương |
Nguyễn Văn Định |
|
Nơi nhận:
|
Bản án số 08/2024/KDTM-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 08/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH công thương kiện công ty New
