|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 10 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và ông Tài Văn Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Vũ Thị T, sinh ngày 14/02/1986 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; số CCCD: [...], trình độ học vấn: 6/12, nghề nghiệp: làm nông, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; con ông Vũ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958, có chồng: Nguyễn Trọng S, sinh năm 1976; có 03 người con, lớn nhất năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Không, tiền sự: Không, bị tạm giữ từ ngày 13/6/2024 đến ngày 19/6/2024. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người làm chứng:
Ông Trần Viết T1, sinh năm 1976, địa chỉ: Số B đường L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Trọng S, sinh năm 1976, địa chỉ: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 5/2024, Vũ Thị T được một người tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) liên hệ nhờ mua giúp một số cá thể động vật rừng để kinh doanh ăn uống thì T đồng ý. Rạng sáng ngày 12/6/2024, khi T đi cạo mủ cao su tại Đ, xã I, huyện I thì T đã phát hiện và bắt được một con Trăn gấm và bỏ vào bao tải rồi mang về nhà giấu ở sau nhà. Đến khoảng 13 giờ ngày 13/6/2024, T thấy có một người thanh niên người JaRai (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi ngang qua nhà có mang theo 08 con Kỳ đà còn sống nên T đã mua lại với giá 1.800.000 đồng, ngoài ra người thanh niên này còn cho T thêm 02 con Chồn bay đã bị chết. Sau khi mua xong thì T bỏ hết các cá thể động vật trên vào bao tải và túi ni lông màu đen rồi đem giấu phía sau nhà. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi T mang 08 con Kỳ đà, 01 con Trăn gấm và 02 con Chồn bay ra trước nhà để gửi xe khách của anh Trần Viết T1 để vận chuyển về thành phố P giao cho người tên H thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G bắt quả tang và tạm giữ 08 cá thể nghi là Kỳ đà vân, còn sống, tổng khối lượng là 18kg; 02 cá thể nghi là Chồn bay, đã chết, tổng khối lượng 1,7kg; 01 cá thể nghi là Trăn gấm, còn sống, khối lượng là 2,9kg; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh.
Theo Kết luận giám định hình thái động vật số 976/STTNVS ngày 17/6/2024 của V2 sinh vật thuộc Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam:
Xác định tên loài động vật:
- 02 (hai) cá thể động vật được đánh số thứ tự 1A và 2A trong bản ảnh gửi giám định là loài Chồn bay (cầy bay) có tên khoa học là G variegatus, thuộc lớp Thú (M).
- 08 (tám) cá thể động vật được đánh số thứ tự từ 01 đến 08 trong bản ảnh gửi giám định là loài Kỳ đà vân có tên khoa học là V1 nebulosus (Varanus bengalensis), thuộc lớp bò sát (Reptilia)
- 01 (một) cá thể động vật được đánh số thứ tự 1B trong bản ảnh gửi giám định là loài Trăn gấm có tên khoa học là P reticulatus (Malayopython reticulatus), thuộc lớp bò sát (R).
Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:
- Loài Chồn bay (Cầy bay) có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
- Loài chồn bay (Cầy bay) và Kỳ đà vân có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
- Loài Trăn gấm có tên trong nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
- Tại Kết luận định giá số 307/KL-HĐĐGTS ngày 08/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai xác định: 01 cá thể Trăn gấm nặng 2,9kg có giá trị 1.015.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Ngày 03/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã ra Quyết định xử lý vật chứng và giao cho Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật thuộc Vườn Quốc gia K để xử lý theo qui định đối với 08 cá thể Kỳ đà vân, 01 cá thể Trăn gấm, 02 cá thể Chồn bay. Ngày 05/7/2024 Trung tâm C thuộc Vườn Quốc gia K đã tiến hành tiêu hủy 02 cá thể Chồn bay đã chết và tiến hành thả 08 cá thể Kỳ đà vân, 01 cá thể Trăn gấm vào rừng thuộc vườn Quốc gia K.
Vật chứng hiện còn trong vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh.
Đối với hành vi buôn bán 01 cá thể Trăn gấm thuộc nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có giá trị là 1.015.000 đồng của bị can T, chưa đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã quy định tại Điều 234 Bộ luật hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Trọng S, là chồng của bị cáo và Trần Viết T1 là người Thương gọi để thuê chở các cá thể động vật rừng thì cả hai đều không biết về hành vi mua bán cá thể động vật rừng của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không xem xét xử lý trách nhiệm.
Đối với đối tượng tên H là người liên hệ bị can T để đặt mua các cá thể động vật rừng và người thanh niên dân tộc Jarai đã bán các cá thể động vật rừng cho T thì hiện nay vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh và xử lý sau.
- Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 27 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Vũ Thị T về “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
- Diễn biến tranh tụng tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Vũ Thị T phạm “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là phụ nữ đang nuôi nhiều con còn đang đi học, theo xác nhận của chính quyền địa phương là lao động chính, có ông nội là người có công quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng.
Bị cáo Vũ Thị T thừa nhận thực hiện hành vi phù hợp với Cáo trạng đã nêu, đồng ý về tội danh, điều luật bị truy tố, không có ý kiến kêu oan, cho rằng nguyên nhân phạm tội do biết được là động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và không am hiểu quy định của pháp luật về việc mua bán động vật hoang dã, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo hoặc hình phạt tiền để có điều kiện chăm sóc mẹ già và các con còn đang đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện I, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên tất cả đều hợp pháp và không có ý kiến khiếu nại.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị T thừa nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết quả giám định có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ căn cứ xác định hành vi bị truy tố là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
[3] Động vật hoang dã là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái, bảo đảm môi trường sống trong lành cho con người. Mọi người đều phải có trách nhiệm bảo vệ động vật hoang dã, đặc biệt là động vật nguy cấp, quý hiếm, tạo môi trường sống cho các loài động vật này được bảo tồn và phát triển, bảo vệ môi trường sinh thái, sự đa dạng sinh học và giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá cho nhân loại.
[4] Bị cáo đã thực hiện hành vi mua, cất giữ nhằm buôn bán trái phép 02 cá thể Chồn bay (Cầy bay) đã chết thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ và 08 cá thể Kỳ đà vân thuộc lớp bò sát trong Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc Nhóm IB, Danh mục động vật rừng nguy cấp nguy cấp, quý hiếm. Hành vi của bị cáo đã phạm vào các tình tiết định tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự.
[5] Mặc dù bị cáo cho rằng không biết đây là động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo đủ khả năng nhận thức về hành vi của mình, buộc phải tìm hiểu, nhận thức về tính chất hành vi của mình để đảm bảo tuân thủ pháp luật, không gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vì hám lợi đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Xét bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có lỗi cố ý, hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội nghiêm trọng nên cần xử lý nghiêm bằng trách nhiệm hình sự nhằm nghiêm trị, cải tạo thành người tốt, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa tội phạm.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; là phụ nữ hiện đang nuôi nhiều con còn nhỏ và có ông nội, cha chồng là người được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Bộ luật Hình sự. Mặc dù có xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo là lao động chính, tuy nhiên qua kết quả thẩm tra tại phiên tòa không có chứng cứ để chứng minh chồng của bị cáo suy giảm khả năng lao động nên không áp dụng tình tiết này.
[7] Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và là phụ nữ đang nuôi nhiều con còn nhỏ; sự hiểu biết đúng đắn về tầm quan trọng và quy định của pháp luật về bảo vệ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm còn có sự hạn chế nhất định; hành vi bán chưa đạt và chưa được hưởng lợi. Hội đồng xét xử thấy áp dụng hình phạt tiền với mức 500.000.000 đồng đối với bị cáo cũng đảm bảo tác dụng giáo dục ý thức pháp luật, phòng ngừa tội phạm nên chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát và của bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo cơ hội hòa nhập với xã hội, chăm sóc gia đình, sữa chữa lỗi lầm, thành công dân có ích.
[8] Về vật chứng, tịch thu sung ngân sách Nhà nước một điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
1. Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị T 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng nộp sung ngân sách Nhà nước.
2. Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, trong một bì thư niêm phong.
Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo Vũ Thị T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Văn Huy |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (hình sự)
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Th. có hành vi buôn bán 08 cá thể kỳ đà vân và 02 cá thể chồn bay là động vật nguy cấp, quý, hiếm
