Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/08/2024

V/v: “Xin ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Hoàng Văn Hùng

2. Bà: Phạm Thị Nghị

Thư ký toà án ghi biên bản: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23/5/2024 về việc xin ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXX-ST ngày 12/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Len Thị K, sinh năm: 1986, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Len Văn L, sinh năm: 1984, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đều có địa chỉ: bản K, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án cũng đơn xin vắng mặt, nguyên đơn trình bày:

* Về hôn nhân: Chị và anh L tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán truyền thống, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 15/05/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại, hòa thuận tại bản K, xã N, huyện Q, được một thời gian. Đến khoảng đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống, mặc dù được gia đình nội ngoại dàn xếp hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Anh, chị sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau. Từ khi sống ly thân, xét thấy không còn tình cảm vợ chồng. Chị thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyện vọng muốn được ly hôn.

* Về con chung: Anh và chị có 02 con chung là cháu Len Thị V (sinh ngày: 09/03/2006) và cháu Len Viết B (sinh ngày 16/11/2007). Cháu V đã đủ 18 tuổi, hoàn toàn khoẻ mạnh, đủ khả năng tự chăm sóc bản thân nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị có nguyện vọng được nuôi cháu B cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn, anh Len Văn L: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Quan Hoá đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh L không đến Tòa án để làm việc; anh L luôn vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như xét xử. Như vậy, anh L đã tự mình từ bỏ các quyền lợi của mình.

Tại phiên toà, Đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Len Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Len Văn L là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.

[2]. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn luôn chấp hành theo triệu tập của Tòa án và thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù được Tòa án thông báo, triệu tập theo đúng thủ tục tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.

[3]. Về nội dung:

3.1. Về hôn nhân: Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Len Thị K và anh Len Văn L là hôn nhân hợp pháp. Bởi lẽ anh chị tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày ngày 15/5/2006 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và thực hiện đầy đủ thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận tại bản Ken, xã N, huyện Q được một thời gian, đến khoảng đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống, mặc dù được gia đình nội ngoại dàn xếp hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Anh, chị từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau. Từ khi sống ly thân, xét thấy không còn tình cảm vợ chồng. Chị thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyện vọng muốn được ly hôn. Anh L luôn vắng mặt không có lý do trong quá trình giải quyết vụ án là tự mình tự bỏ quyền lợi của đương sự.

Xét nguyện vọng của các đương sự cũng như diễn biến giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy: Toà án đã tiến hành mời anh L tham gia hoà giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh không đến Tòa án làm việc. Điều đó cho thấy anh L không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với chị K, chứng tỏ hôn nhân giữa anh L và chị K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K yêu cầu ly hôn với anh L là có cơ sở. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Len Thị K.

3.2. Về con chung: Các đương sự có 02 con chung, hiện cháu Len Thị V (sinh ngày: 09/03/2006) đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Len Viết B (sinh ngày 16/11/2007), cháu B có nguyện vọng ở với mẹ, chị K có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy cháu B. HĐXX thấy nên giao cháu Len Viết B cho chị K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

3.3. Về tài sản và nợ nần chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[4]. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và đề nghị đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn chị Len Thị K phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68; khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238 và Điều 273 BLTTDS;

Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ;

Căn cứ: Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Len Thị K, cho chị K được ly hôn anh Len Văn L.
  • - Về con chung: Giao cháu Len Viết B (sinh ngày 16/11/2007) cho chị Len Thị K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật; anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở. Trong trường hợp anh L lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị K được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh L. Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có yêu cầu khác.
  • - Án phí: Chị Len Thị K phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006510 ngày 23/05/2024 của Chi cục thi hành án dân huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
  • - Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Quan Hóa;
  • - CC.THADS huyện Quan Hóa;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Nam Tiến, Quan Hóa;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

Thành viên Hội đồng xét xử

Hoàng Văn Hùng

Phạm Thị Nghị

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Len Thị Khâm - Len Văn Liên ly hon
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger