Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17 - 6 - 2024

“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Kha và bà Nguyễn Kim Liên

Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà tham gia phiên toà: ông Đặng Đức Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân, gia đình thụ lý số: 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phạm Thị H, sinh năm: 1988;

- Bị đơn: anh Nguyễn Đức K, sinh năm: 1988;

Đều có nơi thường trú: số A phố L, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh.

Các đương sự đều vắng mặt, có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và quan điểm thể hiện tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 12/6/2024 của nguyên đơn chị Phạm Thị H thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Đức K có thời gian tìm hiểu nhau rồi quyết định về chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 04/10/2008 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, chị và anh K chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, tính cách và không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Gia đình nội ngoại đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Chị và anh K đã chính thức ly thân từ đầu năm 2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Đức K được ly hôn.

- Về con chung: chị và anh Nguyễn Đức K có 02 (hai) con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/10/2008 và Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 17/12/2010, chị đề nghị là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Ngọc T1 Anh cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Nguyễn Đức K là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Bảo Trâm cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chị và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản chung, khoản nợ chung: Chị H trình bày không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Đức K, tại Bản tự khai ghi ngày 23/5/2024 thể hiện cơ bản phù hợp với nội dung trình bày của chị Phạm Thị H về quan hệ hôn nhân, con chung và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn nhưng anh K không trình bày về phần tài sản chung và khoản nợ chung. Anh K có quan điểm đồng ý với yêu cầu của chị H.

Sau khi nhận được Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 24/5/2024 của Tòa án thì ngày 27/5/2024, anh Nguyễn Đức K gửi Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, lập ngày 25/5/2024 trong đó thể hiện thời gian ly thân phù hợp với nội dung chị H trình bày cũng như quan điểm đồng ý ly hôn; anh K đề nghị mỗi người nuôi một con hoặc theo nguyện vọng của các con; anh K không đề cập đến tài sản chung và khoản nợ chung. Anh K cũng đề nghị vắng mặt tại các phiên làm việc, phiên tòa mà không cần thiết phải làm thủ tục hoãn.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp các chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm: Trích lục kết hôn (bản sao); Xác nhận thông tin về cư trú (bản chính); Căn cước công dân (02 bản sao); Giấy khai sinh (02 bản sao); Phiếu chuyển EMS (bản chính); Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án (bản chính).

Chứng cứ do Tòa án thu thập là: Biên bản xác minh tại địa phương; Biên bản làm việc về việc vắng mặt bị đơn không tham gia tố tụng; Biên bản ghi lời khai;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà phát biểu như sau:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
  • + Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật;
  • + Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn được đảm bảo và nghiêm chỉnh chấp hành quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); bị đơn là anh Nguyễn Đức K được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật theo Điều 70, 72 BLTTDS. Các đương sự cơ bản đã thực hiện nghĩa vụ của mình.
  • - Về đường lối giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.

  • + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Đức K.
  • + Về con chung: chị Phạm Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 17/12/2010 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Nguyễn Đức K là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Bảo Trâm, sinh ngày 27/10/2008 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chị H và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  • + Về tài sản chung: Không có.
  • + Về khoản nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và căn cứ vào kết quả tranh tụng, hỏi tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

  • - Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Đức K là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quyển 01, ngày 04/10/2008 của UBND phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh); do mâu thuẫn vợ chồng nên chị H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh K nên thuộc trường hợp “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”; bị đơn anh Nguyễn Đức K hiện đang sinh sống tại phố L, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì Tòa án nhân dân huyện Hải Hà là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án.
  • Chị Phạm Thị H có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Đức K theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Về thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, bị đơn đề nghị không cần thiết phải hòa giải mà giải quyết vắng mặt tại các phiên làm việc, phiên tòa nên khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn đã được Tòa án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đồng thời Tòa án cũng đã thông báo kết quả phiên họp đó cho bị đơn đảm bảo quy định. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của BLTTDS. Trước khi nộp đơn khởi kiện ly hôn, nguyên đơn đã thực hiện việc gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho bị đơn thể hiện tại phiếu gửi ngày 05/4/2024.
  • - Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H, Hội đồng xét xử thấy:

  • - Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Đức K là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, thiếu sự tôn trọng nhau dẫn đến đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Mặc dù, anh K cũng có quan điểm đồng ý ly hôn nhưng anh K bận công việc không tham gia tố tụng mà làm đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Ngoài ra, biên bản xác minh ngày 22/4/2024 tại địa phương bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Đức K và đại diện địa phương cung cấp thông tin thể hiện cơ bản phù hợp với phần trình bày của chị H về quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm và quá trình ly thân. Từ đó cho thấy, thực trạng cuộc sống chung giữa vợ chồng chị H và anh K không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ và thiếu tôn trọng nhau, hôn nhân thực tế không còn tồn tại là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh K.
  • - Về con chung: chị H và anh K có 02 (hai) con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/10/2008 và Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 17/12/2010.
  • Quá trình giải quyết vụ án, chị H có quan điểm là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 17/12/2010 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, giao con chung Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/10/2008 cho anh K là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 26/4/2024 của anh K thể hiện cùng quan điểm mỗi người nuôi 01 con hoặc theo nguyện vọng của các con, cơ bản phù hợp với quan điểm với chị H. Hơn nữa, tại biên bản ghi lời khai của con chung của chị H và anh K, cháu Bảo T có nguyện vọng ở với bố, cháu Trâm A có nguyện vọng được ở với mẹ là phù hợp với đề nghị nuôi con của chị H và anh K nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận.
  • Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị H có quan điểm anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Tuy nhiên, các đương sự có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; trên cơ sở lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Về tài sản chung, khoản nợ chung: chị H trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  • Do anh K không có quan điểm về phần tài sản chung và khoản nợ chung và vắng mặt trong quá trình giải quyết nên trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản chung và khoản nợ chung thì được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3]. Về nghĩa vụ chịu án phí: đây là vụ án dân sự sơ thẩm (ly hôn) không có giá ngạch, nên cần buộc nguyên đơn chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”.

  1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đức K.
  2. Về con chung: giao con chung Nguyễn Ngọc Trâm A, sinh ngày 17/12/2010 cho chị Phạm Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, giao con chung Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/10/2008 cho anh Nguyễn Đức K là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chị H và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; trên cơ sở lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về nghĩa vụ chịu án phí: buộc chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005122 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - UBND phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Hải Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Dương Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn khởi kiện cho chị H được ly hôn anh K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger