TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/DS - ST
Ngày: 17/4/2024
V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Mã Siêu.
Bà Tô Thị Hương.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 37/2023/TLST- DS ngày 16/10/2023 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-DS ngày 16/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QĐST-DS ngày 20/3/2024 giữa :
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A.
Địa chỉ: Số C, H, phường Ô, quận Đ, TP Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Mạnh K - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP A.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Q - Chức vụ: Trưởng Ban xử lý nợ Ngân hàng TMCP A.
Người được ủy quyền lại: Ông Lê Xuân T - Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP A.
- Bị đơn: Chị Đào Như Q1, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Ông T có mặt; chị Q1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần A do người đại diện theo ủy quyền ông Lê Xuân T trình bày:
Ngày 10/8/2022, chị Đào Như Q1 đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) với Ngân hàng TMCP A, Hợp đồng số 1008/TTD - MĐ, nội dung như sau: Hạn mức tín dụng 150.000.000đồng; Lãi suất cho vay trong hạn là 19%/năm (Theo Quyết định số 162/QĐ-TGĐ.21 ngày 14/5/2021 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP A; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Trong quá trình vay nợ, chị Q1 đã trả được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 14.304.070 đồng, sau đó chị Q1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A1 VISA, Hợp đồng số 1008/TTD -MĐ. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu chị Q1 phải trả nợ cho Ngân hàng nhưng không có kết quả. Dư nợ thẻ tín dụng của Chị Q1 tính đến ngày 17/4/2024 là 203.293.219 đồng. Trong đó nợ gốc là 142.694.930 đồng; nợ lãi trong hạn là 596.340 đồng và nợ lãi là 38.229.901 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP A đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết yêu cầu sau: Buộc chị Đào Như Q1 phải trả cho Ngân hàng các khoản tiền sau:
- - Số tiền nợ gốc là: 142.694.930 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm chín mươi tư nghìn chín trăm ba mươi đồng);
- - Tiền lãi trong hạn là: 596.340 đồng (Năm trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi đồng).
- - Tiền lãi quá hạn tính đến ngày 17/4/2024 là: 60.001.949 đồng (Sáu mươi triệu không trăm linh một nghìn chín trăm bốn mươi chín đồng).
Tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 17/4/2024 chị Đào Như Q1 phải trả cho Ngân hàng là: 203.293.219 đồng (Hai trăm linh ba triệu hai trăm chín mươi ba nghìn hai trăm mười chín đồng).
Bị đơn là chị Đào Như Q1 vắng mặt tại phiên tòa và không có lời khai.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/10/2023, bà Nguyễn Thị T1 là bá của chị Đào Như Q1 trình bày: Bố của Chị Q1 đã chết, mẹ chị Q1 đã chuyển đi sống cùng các con. Chị Q1 không có mặt tại địa phương, bà T1 không biết địa chỉ cụ thể chị Q1 ở đâu. Khi ở nhà có công việc thị chị Q1 vẫn về địa phương. Việc vay nợ cuả chị Q1 bà T1 không biết và không liên quan gì.
Tại biên bản xác minh ngày 23/10/2023, Công an xã N, huyện T cung cấp như sau: Chị Đào Như Q1, sinh năm 1987 có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Chị Q1 hiện tại không có mặt tại địa phương, địa phương không biết chị Q1 ở đâu.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Đối với nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và tham gia phiên tòa. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật, không có mặt theo Thông báo của Tòa án và không tham gia phiên tòa.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A. Buộc chị Đào Như Q1 phải trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm.
- - Về án phí: Chị Đào Như Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP A là tổ chức tín dụng, có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận. Chị Đào Như Q1 ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) với Ngân hàng TMCP A theo Hợp đồng số 1008/TTD-MĐ, hạn mức tín dụng được cấp là 150.000.000đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Do vậy, đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng. Bị đơn là chị Q1 cư trú tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa Ngân hàng TMCP A với chị Đào Như Q1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
[1.2]. Về việc vắng mặt của bị đơn: Chị Đào Như Q1 hiện tại không có mặt tại thôn C, xã N, huyện T. Chính quyền địa phương và thân nhân của chị Q1 không biết địa chỉ cụ thể của chị Q1. Tuy nhiên tại thời điểm chị Q1 ký hợp đồng phát hành thẻ tại Ngân hàng TMCP A thì trong Hợp đồng chị Q1 cung cấp địa chỉ cũng như tài liệu là sổ hộ khẩu thể hiện nơi cư trú của chị Q1 là thôn C, xã N, huyện T. Khi chị Q1 thay đổi địa chỉ đã không thông báo cho Ngân hàng biết về địa chỉ, nơi cư trú mới của mình theo quy định tại khoản 3 Điều 40 và điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự. Như vậy chị Q1 cố tình giấu địa chỉ của mình. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Chị Q1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A, Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 10/8/2022, chị Đào Như Q1 đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) với Ngân hàng TMCP A, Hợp đồng số 1008/TTD-MĐ, nội dung như sau: Hạn mức tín dụng 150.000.000đồng; Lãi suất cho vay trong hạn là 19%/năm (Theo Quyết định số 162/QĐ-TGĐ.21 ngày 14/5/2021 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP A; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Việc chị Đào Như Q1 ký kết hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ để vay vốn tại Ngân hàng TMCP A là hoàn toàn tự nguyện, lãi suất và các nội dung thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) giữa chị Q1 với Ngân hàng TMCP A, Hợp đồng số 1008/TTD-MĐ là hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị Q1 đã trả được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 14.304.070 đồng, sau đó chị Q1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A1 VISA, Hợp đồng số 1008/TTD-MĐ. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu chị Q1 phải trả nợ cho Ngân hàng nhưng không có kết quả. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng TMCP A về việc buộc chị Q1 phải trả nợ cho Ngân hàng các khoản nợ gồm: Số tiền nợ gốc là: 142.694.930 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm chín mươi tư nghìn chín trăm ba mươi đồng); Tiền lãi trong hạn là: 596.340 đồng (Năm trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi đồng) và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 17/4/2024 là: 60.001.949 đồng (Sáu mươi triệu không trăm linh một nghìn chín trăm bốn mươi chín đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 280, Điều 357, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về án phí:
Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A được Tòa án chấp nhận. Vì vậy, Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chị Đào Như Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với tổng số tiền chị Q1 phải trả cho Ngân hàng là 203.293.219 đồng x5% = 10.164.661 đồng (Mười triệu một trăm sáu mươi tư nghìn sáu trăm sáu mươi mốt đồng).
[4]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 299, Điều 318, Điều 323, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 điều 8, khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A. Buộc chị Đào Như Q1 phải trả cho Ngân hàng TMCP A các khoản nợ sau:
- - Số tiền nợ gốc là: 142.694.930 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm chín mươi tư nghìn chín trăm ba mươi đồng);
- - Tiền lãi trong hạn là: 596.340 đồng (Năm trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi đồng).
- - Tiền lãi quá hạn tính đến ngày 17/4/2024 là: 60.001.949 đồng (Sáu mươi triệu không trăm linh một nghìn chín trăm bốn mươi chín đồng).
Tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 17/4/2024 chị Đào Như Q1 phải trả cho Ngân hàng là: 203.293.219 đồng (Hai trăm linh ba triệu hai trăm chín mươi ba nghìn hai trăm mười chín đồng).
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”.
2. Về án phí: Chị Đào Như Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.164.661 đồng (Mười triệu một trăm sáu mươi tư nghìn sáu trăm sáu mươi mốt đồng).
Trả lại Ngân hàng TMCP A số tiền tạm ứng án phí 4.300.000 đồng (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002503 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/4/2024).
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |
Bản án số 08/2024/DS - ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 08/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng an Bình - Đào Như Quỳnh
