|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/HSST Ngày: 18/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoa Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Mạnh và ông Nguyễn Văn Luận.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hân - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/HSST ngày 17/5/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: A C
tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh ngày 15/01/2005 tại Kon Tum; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xơ Đăng; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Văn hóa: 4/12; Có cha là A P, sinh năm 1960 (đã chết); Mẹ là Y L, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo có 06 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 05/02/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thúy H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh A M, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.( có mặt)
1
- Người làm chứng: Anh A Ma J, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 01/2024, khi đi tìm việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo A C có gặp và làm quen với một thanh niên người dân tộc thiểu số tự giới thiệu là đến từ Đ (không rõ nhân thân, lai lịch). Đến ngày 03/02/2024, cả hai cùng nhau sử dụng ma túy. Sau đó, người thanh niên trên bán cho bị cáo A C 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng với mục đích đem về sử dụng. Đồng thời cho bị cáo A C 01 cống tự chế để sử dụng ma túy. Ngày 05/02/2024, bị cáo A C về nhà tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ thì có mượn xe mô tô BKS: 82U1-060.98 của A M để tìm chỗ sử dụng ma túy. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/02/2024, khi đang lưu thông trên đường liên thôn thuộc thôn Đ, xã Đ thì bị cáo A C bị Tổ công tác của Công an huyện Đ dừng phương tiện để kiểm tra và phát hiện bị cáo A C đang tàng trữ 01 gói ni long trong suốt kích thước (2x1,2)cm chứa chất tinh thể màu trắng là chất ma túy, giấu trong túi quần sau bên phải. Trên tay trái cầm 01 dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong có bám dính chất rắn màu đen.
Kết quả xét nghiệm hóa sinh máu tại Trung tâm y tế huyện Đ, bị cáo A C dương tính với M1 và A.
Bản kết luận giám định số 42/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng trong gói ni long được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,144 gam. Mẫu chất rắn màu đen bám dính trong đầu ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định không xác định được khối lượng, không đủ điều kiện để giám định”.
Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô đã truy tố bị cáo A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
2
38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng theo quy định pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa đồng ý với phần luận tội về tội danh của bị cáo. Áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo; Đồng thời, xem xét bị cáo có nhân thân tốt; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện khó khăn về kinh tế; Khả năng nhận thức về pháp luật còn hạn chế (văn hóa 4/12), trình độ dân trí thấp nên đề nghị hình phạt đối với bị cáo là 12 tháng tù giam.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không bị khiếu nại nên các hành vi tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa đã xác định được:
Vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/02/2024, bị cáo A C đã điều khiển xe mô tô và giấu 01 gói ma túy với mục
3
đích để sử dụng vào túi quần sau bên phải, tay trái cầm dụng cụ sử dụng ma túy để tìm chỗ sử dụng thì bị Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra và bắt quả tang. Kết quả xét nghiệm hóa sinh máu, bị cáo A C dương tính với M1 và A.
Kết luận giám định khẳng định: “Mẫu chất tinh thể màu trắng trong gói ni long được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,144 gam”.
Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có cơ sở để khẳng định, bị cáo A C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,144 gam ma túy, loại Methamphetamine. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều hành vi phạm tội và các tệ nạn xã hội khác. Cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tiếp tục cải tạo bản thân.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- - Bị cáo có nhân thân tốt;
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,139 gam loại Methamphetamine và 01 ống thủy tinh hình trụ có kích thước dài 13cm theo biên bản giao nhận vật chứng.
- Đối với xe mô tô BKS: 82U1-060.98 của A M Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu là đúng quy định.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí:
Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh
4
tế xã hội khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Về các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo thì bị cáo không biết về nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để tiến hành xác minh. Khi có đủ căn cứ, Cơ quan điều tra sẽ xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố
bị cáo A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo A C 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (05/02/2024).
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 gói ni long trong suốt kích thước (2x1,2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, có khối lượng 0,139 gam.
- - 01 ống thủy tinh hình trụ có kích thước dài 13cm, một đầu được uốn cong, cuối của phần uốn cong là đầu thủy tinh có hình cầu hở đường kính khoảng 1,5cm, bên trong có bám dính chất rắn màu đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đ).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo A C.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/6/2024).
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoa Như |
6
Bản án số 08/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 08/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
