Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/KDTMPT.

Ngày: 16-7-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thủy

Ông Nguyễn Văn Quế

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Vũ Thị Năm- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 7 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2024/TLPT-KDTM ngày 06 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. 1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần G

    Địa chỉ: Tổ B cũ (nay là tổ A), phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh H - Chức vụ: Tổng giám đốc. Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền:

    • Ông Hoàng Danh S, chức vụ: Kế toán trưởng. Có mặt.
    • Bà Nguyễn Thị T, chức vụ: Phó phòng Tài chính – Kế toán. Có mặt.

    Công ty L2, H5 – Đoàn luật sư thành phố H.Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Đức H1, chức vụ: Giám đốc (vắng mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn: Luật sư Đỗ Thanh T1 - Công ty L2, H5 – Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

  2. 2. Bị đơn: Công ty TNHH T8

    Địa chỉ: Cụm T, xã H, huyện D, tỉnh Hà Nam.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Thanh S1, chức vụ: Giám đốc (vắng mặt)

    Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam T9 – Cục Đ1 - Bộ Quốc phòng

  3. 3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
    1. 3.1. Ngân hàng thương mại cổ phần Q1

      Địa chỉ: Tầng F Tòa nhà C, A P, phường P, H, Hà Nội.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng giám đốc

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức V1 và ông Hoàng Tiến H2 - chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ. Có mặt.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Ngọc H3– Văn phòng L3 – Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

    2. 3.2. Công ty cổ phần C

      Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần T2 – Chức vụ: Tổng giám đốc

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức L, chức vụ: Phó tổng giám đốc; Ông Bùi Cao S2, chức vụ: Phó phòng tổ chức hành chính. Có mặt.

  4. 4. Người làm chứng:
    1. 4.1. Bà Ngô Thu P, sinh năm 1975 (có mặt)

      Nơi cư trú: Tổ 11, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

      Là Nhân viên Phòng Tài chính – Kế toán – Công ty cổ phần G

    2. 4.2. Bà Nguyễn Thị Vân T3, sinh năm 1958 (vắng mặt)

      Nơi cư trú: Tổ 02, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

      Nguyên là nhân viên Kế toán Xí nghiệp chính - Phòng Kế toán Thống kê Tài chính – Công ty cổ phần G

    3. 4.3. Ông Bùi Trọng Đ, sinh năm 1962 (có mặt)

      Nơi cư trú: Tổ 08, phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

      Nguyên là Phó phòng Tài chính - Kế toán công ty cổ phần G

    4. 4.4. Ông Đỗ Xuân H4, sinh năm 1954 (vắng mặt)

      Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

      Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại số B - Trại giam Q2 – Cục C1 – Bộ C2.

      Nguyên là Kế toán trưởng - Công ty cổ phần G

    5. 4.5. Bà Lê Thị Tuyết L1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

      Nơi cư trú: Tổ E, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

      Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại số 02 - Trại giam P1 - Cục C1 - Bộ C2.

      Nguyên là Phó phòng Tài chính - Kế toán - Công ty cổ phần G

    6. 4.6. Bà Trần Thu N, sinh năm 1952 (vắng mặt)

      Nơi cư trú: A11- Tập thể Trường Đ2, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

      Nguyên là Giám đốc Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh H6

    7. 4.7. Ông Nguyễn Anh T4, sinh năm 1982; (vắng mặt)

      Nơi cư trú: Số C - Nhà H2, khu tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

      Nguyên là Giám đốc phòng khách hàng doanh nghiệp I - Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Hà Nội

  5. 5. Người kháng cáo: Công ty Cổ phần G là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/01/2011, Công ty cổ phần G (Sau đây gọi tắt là: Tisco) và Công ty TNHH T8 (sau đây gọi tắt là Hà Nam) ký Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN – Theo đó T5 đồng ý cho Hà N1 làm nhà phân phối và tiêu thụ thép cán do T5 sản xuất tại địa bàn tỉnh Hà Nam. Hợp đồng có các điều khoản cơ bản như: Số lượng, chủng loại: Là Thép cán các loại, số lượng: 10.000 tấn/tháng (dung sai số lượng ± 5%; Đơn giá: Thực hiện theo quyết định của Tổng giám đốc T10 tại từng thời điểm mua hàng; Hình thức thanh toán: bằng chuyển khoản hoặc bù trừ công nợ giữa hai bên; Thời hạn thanh toán: Theo quy định của T5 tại từng thời điểm mua hàng.... Nếu quá thời hạn thanh toán mà bên mua không trả tiền hàng thì bên bán sẽ có văn bản yêu cầu Ngân hàng thanh toán thay và bên mua phải chịu lãi suất theo quy định của Tổng giám đốc T10 tại từng thời điểm thanh toán. Ngoài ra hợp đồng còn có các điều khoản quy định về quy cách, phẩm chất, phương thức giao nhận, bốc xếp, vận chuyển, các điều khoản khác, trách nhiệm của mỗi bên và cam kết chung. Hiệu lực của hợp đồng kể từ ngày ký cho đến hết ngày 28/02/2012.

Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của công ty T8 đối với Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, Ngân hàng TMCP Q1 - Chi nhánh H6 (viết tắt là: V2 – Chi nhánh H6) đã phát hành 06 Thư bảo lãnh thanh toán với tổng số tiền 250 tỷ đồng. Ngoài ra, Hà Nam, T5 và công ty cổ phần C (gọi tắt là: T) còn ký Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC ngày 07/10/2011. Trong đó: Bên nhận cầm cố là T5, bên cầm cố là Công ty T8, bên quản lý tài sản cầm cố là công ty C. Theo đó T5 đã nhận cầm cố 2.420.853 cổ phần, tương đương với giá trị thực góp là 24.208.538.080đ; giá trị cầm cố theo hợp đồng tương đương với 95% giá trị thực góp = 22.998.111.176đ. Hiện tài sản cầm cố đã được đăng ký giao dịch tại Sở G1, với loại chứng khoán: Cổ phiếu phổ thông; Mã chứng khoán: TTS; Mệnh giá khi phát hành: 10.000đ/cổ phiếu.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN: Hà Nam và T5 còn ký kết 03 phụ lục hợp đồng gồm:

  • Phụ lục số 01 (Ngày 07/10/2011): Trong đó có nội dung T5 đồng ý bán thép cho công ty T8 thanh toán chậm trả và được bảo đảm bởi hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC ngày 07/10/2011, tương đương với giá trị cầm cố là 22.998.111.176đ.
  • Phụ lục số 02 (ký ngày 24/02/2012): Trong đó có nội dung T5 và Hà Nam nhất trí sửa đổi, bổ sung tại Điều 5 khoản 5.1 về hình thức thanh toán của hợp đồng như sau: Bên A(T10) đồng ý, Bên B(Hà Nam) chấp thuận thanh toán bù trừ công nợ theo Điều 4 khoản 4.2.2 của Hợp đồng mua bán phôi số 01-12/PT/TIS-HAN ký ngày 16/02/2012 giữa công ty cổ phần G với công ty TNHH T8 đối với Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN ký ngày 01/01/2011.
  • Phụ lục số 03 (ký ngày 06/3/2012): Trong đó có nội dung T5 và Hà Nam nhất trí sửa đổi, bổ sung tại Điều 5 khoản 5.1 về hình thức thanh toán của hợp đồng như sau: Bên A(T10) đồng ý, Bên B(Hà Nam) chấp thuận thanh toán bù trừ công nợ theo Điều 4 khoản 4.2.2 của Hợp đồng mua bán thép phế liệu số 01-12/PT/TIS-HAN ký ngày 16/02/2012 giữa công ty cổ phần G với công ty TNHH T8 đối với Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN ký ngày 01/01/2011.

Căn cứ vào Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN và các phụ lục hợp đồng, T5 đã bán hàng cho Công ty T8. Tuy nhiên Hà Nam đã không tuân thủ trách nhiệm thanh toán, dẫn đến phát sinh công nợ với T5. Theo Biên bản đối chiếu xác nhận công nợ ngày 08/5/2013 thì tính đến hết ngày 30/4/2013 Hà N1 còn nợ T5 tổng số tiền là 125.573.146.852đ, trong đó: Nợ gốc là: 92.376.178.071đ, nợ lãi chậm trả là 33.196.968.781đ. Kể từ đó đến nay công ty T8 chưa thanh toán cho T5 khoản tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh của Hợp đồng mua bán số 05/GT-HN, do đó Tisco yêu cầu Tòa án:

  1. Xác nhận và buộc Công ty TNHH T8 phải trả cho công ty cổ phần G số tiền nợ gốc của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN ngày 01/01/2011 và các Phụ lục số 01 ngày 07/10/2011, Phụ lục số 02 ngày 24/02/2012, Phụ lục số 03 ngày 06/3/2012 là 92.376.178.071 VNĐ (sau khi bù trừ giá trị tiền hàng là 5.033.151.200đ của Hợp đồng cung cấp than mỡ số 02-12/TM-HNA ngày 25/02/2013, Hà N1 còn nợ T5 số tiền nợ gốc là 87.343.026.871đ) và khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc.
  2. Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL326 ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL342 ngày 22/10/2011 đối với số nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng mua bán số 05/GT-HN.
  3. Xử lý tài sản cầm cố là 2.420.853 cổ phần hiện đang quản lý tại công ty C theo Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC ngày 07/10/2011 để thu hồi nợ.

Toàn bộ số tiền có được sau khi xử lý tài sản cầm cố nếu không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Hà N1 trong phạm vi giá trị tài sản cầm cố, thì đề nghị Tòa án buộc Hà Nam thanh toán.

* Đối với yêu cầu phản tố của công ty T8 về việc bù trừ giá trị tiền hàng là 5.033.151.200đ của Hợp đồng mua bán than mỡ số 02-12/TM/TIS-HNA và khoản tiền lãi chậm trả là 4.515.429.797đ của Hợp đồng mua bán than mỡ số 01-12/TM/TIS-HNA vào khoản nợ gốc mà Hà Nam nợ Tisco theo Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, Công ty cổ phần G chỉ đồng ý bù trừ số tiền 5.033.151.200đ vào nợ gốc H7 chưa thanh toán (Tisco đã bù trừ vào khoản nợ gốc ngày 01/8/2013), còn khoản tiền lãi 4.515.429.797đ thì bù trừ vào khoản tiền lãi mà Hà N1 chưa thanh toán cho T5 (T5 đã bù trừ khoản tiền này vào khoản tiền nợ lãi của Hà Nam vào ngày 31/12/2014).

Bị đơn Công ty TNHH T8 trình bày:

Công ty T8 thừa nhận đã ký kết và còn nợ Tisco toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi như Biên bản đối chiếu xác nhận công nợ ngày 08/5/2013 là 125.573.146.852đ. Tuy nhiên do hoạt động kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp hiện đang dừng hoạt động, nên kể từ khi hai bên đối chiếu công nợ đến nay công ty T8 chưa trả được cho T5 khoản tiền nợ gốc và nợ lãi nào.

Ngoài khoản tiền Hà Nam nợ Tisco của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN nêu trên, thì Hà N1 và T5 còn ký kết với nhau Hợp đồng mua bán than mỡ số 01-12/TM/TIS - HNA ngày 26/6/2012 (kèm theo 03 phụ lục hợp đồng) và Hợp đồng mua bán than mỡ số 02-12/TM/TIS-HNA ngày 25/02/2013.

Theo Biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ ngày 08/02/2013, thì tính đến hết ngày 31/01/2013, T5 còn nợ Hà N1 số tiền lãi chậm thanh toán của Hợp đồng mua bán than mỡ số 01-12/TM/TIS - HNA ngày 26/6/2012 là 4.518.429.797đ. Theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000465 ngày 11/3/2013, thì T5 còn nợ Hà N1 giá trị tiền hàng của Hợp đồng mua bán than mỡ số 02-12/TM/TIS-HNA ngày 25/02/2013 là 5.033.151.200đ.

Sau khi hai bên đối chiếu xác nhận công nợ với nhau, Hà Nam đã có văn bản đề nghị T10 bù trừ toàn bộ 02 khoản tiền nêu trên vào khoản nợ gốc mà Hà Nam nợ T5, tuy nhiên T5 không nhất trí.

Ngày 21/11/2013 Hà Nam đã có đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết được bù trừ toàn bộ giá trị tiền hàng của Hợp đồng mua bán than mỡ số 02-12/TM-HNA là 5.033.151.200đ (Kèm theo khoản tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất là 12,96%/năm, kể từ ngày 11/3/2013) và khoản tiền lãi chậm trả của Hợp đồng mua bán than mỡ số 01-12/TM/TIS-HNA là 4.518.429.797đ (kèm theo khoản tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất là 12,96%/năm, kể từ ngày 08/02/2013) vào số nợ gốc mà Hà N1 phải thanh toán cho T5.

Đối với yêu cầu của Nguyên đơn về việc xử lý tài sản cầm cố là 2.420.853 cổ phần thuộc sở hữu của công ty T8 (hiện đang quản lý tại công ty cổ phần C) và yêu cầu buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL326 ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL342 ngày 22/10/2011 để thanh toán vào khoản nợ của Hà Nam, thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 trình bày: Ngày 11/03/2011, Ngân hàng TMCP Q1 - Chi nhánh H6 ký kết Hợp đồng tín dụng số 10.11.11.020 cho công ty TNHH T8 vay vốn với tổng hạn mức tín dụng là 350.000.000.000đ, trong đó hạn mức vay vốn ngắn hạn là 100.000.000.000 đồng và hạn mức bảo lãnh là 250.000.000.000đ.

Trên cơ sở các đơn yêu cầu cấp bảo lãnh của công ty T8, V2 – Chi nhánh H6 đã phát hành 06 Thư bảo lãnh (gồm: Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL275, với giá trị bảo lãnh là 35 tỷ đồng; Thời hạn bảo lãnh từ ngày 07/9/2011 đến 16 giờ ngày 07/12/2011; Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL277, với giá trị bảo lãnh là 35 tỷ đồng; Thời hạn bảo lãnh từ ngày 08/9/2011 đến 16 giờ ngày 08/12/2011; Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL289, với giá trị bảo lãnh là 50 tỷ đồng; Thời hạn bảo lãnh từ ngày 15/9/2011 đến 16 giờ ngày 15/12/2011; Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL315, với giá trị bảo lãnh là 50 tỷ đồng; Thời hạn bảo lãnh từ ngày 01/10/2011 đến 16 giờ ngày 01/01/2012; Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL326, với giá trị bảo lãnh là 50 tỷ đồng; Thời hạn bảo lãnh từ 16 giờ ngày 06/10/2011 đến 16 giờ ngày 06/01/2012; Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL342, với giá trị bảo lãnh là 30 tỷ đồng; Thời hạn bảo lãnh từ ngày 22/10/2011 đến 16 giờ ngày 22/01/2012) để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của Hà Nam cho T5 trong Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN ngày 01/01/2011.

Theo quy định trong các Thư bảo lãnh thì V2 – Chi nhánh H6 sẽ chỉ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với các điều kiện cụ thể là: “VIB - Chi nhánh H6 sẽ thay mặt cho Bên được bảo lãnh chịu trách nhiệm thanh toán cho B nhận bảo lãnh một khoản tiền tối đa bằng giá trị bảo lãnh sau khi nhận được văn bản yêu cầu đầu tiên của Bên nhận bảo lãnh kèm theo hồ sơ chứng minh Bên được bảo lãnh đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Bên nhận bảo lãnh..... Bất cứ yêu cầu nào liên quan đến bảo lãnh phải được xuất trình tại Bên bảo lãnh trong thời hạn bảo lãnh của Thư bảo lãnh kèm theo Thư bảo lãnh gốc này".

Tuy nhiên, trong thời hạn bảo lãnh T5 đã không nộp đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh Hà Nam đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và không xuất trình được Thư bảo lãnh gốc, V2 - Chi nhánh H6 đã có Công văn số 212/2012/VIB HN từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Nay Tisco khởi kiện yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo 02 Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL326 và Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL342, với số tiền nợ gốc là 73,369,818.250đ và khoản lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm, Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 không nhất trí và đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Công ty cổ phần C trình bày: Ngày 07/10/2011, Công ty cổ phần G (là Bên nhận cầm cố) và Công ty TNHH T8 (Bên cầm cố) và Công ty cổ phần C (là Bên quản lý tài sản cầm cố) đã ký kết Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC - Theo đó, T5 nhận cầm cố 2.420.853 cổ phần (tương đương với 95% giá trị thực góp = 22.998.111.176đ) thuộc sở hữu của Công ty T8 tại Công ty C để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN. Hiện nay toàn bộ tài sản cầm cố 2.420.853 cổ phần công ty cổ phần C đang quản lý và đã đăng ký giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (với loại chứng khoán: Cổ phiếu phổ thông; Mã chứng khoán: TTS; Mệnh giá: 10.000đ/cổ phiếu) và Sở G1 cấp giấy chứng nhận theo Quyết định chấp thuận đăng ký giao dịch cổ phiếu số 315/QĐ-SGĐHN ngày 04/5/2017.

Nay công ty cổ phần G yêu cầu Tòa án tiến hành xử lý tài sản cầm cố là 2.420.853 cổ phần theo Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTIN-KTTC để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Hà Nam cho T5, công ty cổ phần C đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng trình bày:

- Bà Ngô Thu P và bà Nguyễn Thị Vân T3 trình bày: Từ năm 2011 đến năm 2013 Bà Ngô Thu P và bà Nguyễn Thị Vân T3 là cán bộ thuộc Phòng Tài chính – Kế Toán của công ty cổ phần G. Trong các ngày 06/12/2011; 13/12/2011; 26/12/2011 và 04/01/2012 bà P và bà T3 được lãnh đạo công ty cổ phần G giao nhiệm vụ đi nộp hồ sơ yêu cầu V2 – Chi nhánh H6 thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo 06 Thư bảo lãnh do V2 – Chi nhánh H6 phát hành. Trong các lần nộp hồ sơ yêu cầu V2- Chi nhánh H6 thực hiện bảo lãnh bà P và bà T3 đều mang theo công văn, hồ sơ chứng minh công ty T8 vi phạm nghĩa vụ thanh toán và Thư bảo lãnh gốc, đồng thời xuất trình cho ông Nguyễn Anh T4 (Khi đó là Giám đốc khách hàng doanh nghiệp I - V2- Chi nhánh H6). Sau khi ông T4 nhận hồ sơ và kiểm tra Thư bảo lãnh gốc thì trả lại Thư bảo lãnh gốc cho bà T3. Nạy V2- Chi nhánh H6 và ông Nguyễn Anh T4 không thừa nhận việc T5 đã nộp đầy đủ hồ sơ và xuất trình Thư bảo lãnh gốc là không có căn cứ.

- Ông Bùi Trọng Đ và ông Đỗ Xuân H4 trình bày: Khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2013, ông Đỗ Xuân H4 giữ chức vụ: Kế Toán T6; ông Bùi Trọng Đ giữ chức vụ: Phó Phòng Tài chính – Kế Toán của công ty cổ phần G. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, do công ty TNHH T8 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên trong thời hạn bảo lãnh T5 đã có nhiều công văn và cử bà Ngô Thu P và bà Nguyễn Thị Vân T3 cầm theo công văn, hồ sơ vi phạm và Thư bảo lãnh gốc đến Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 - Chi nhánh H6 để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Do V2 – Chi nhánh H6 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên ông H4 và ông Đ đã có nhiều buổi làm việc với lãnh đạo V2 Chi nhánh H6 (Trong có buổi làm việc vào ngày 04/01/2012). Tại các buổi làm việc V2 – Chi nhánh H6 đều cam kết sẽ tiếp tục đôn đốc công ty TNHH T8 thanh toán tiền nợ cho T5, đồng thời thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tuy nhiên sau đó V2- Chi nhánh H6 từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Nay Tisco khởi kiện yêu cầu V2- Chi nhánh H6 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL326 ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL342 ngày 22/10/2011, thì ông H4 và ông Đ xác định trong thời hạn bảo lãnh công ty cổ phần G đã nộp đầy đủ hồ sơ chứng minh công ty T8 vi phạm nghĩa vụ thanh toán và đã xuất trình kèm theo Thư bảo lãnh gốc cho V2 – Chi nhánh H6.

- Bà Trần Thu N và ông Nguyễn Anh T4 trình bày: Khoảng thời gian từ năm 2011 đến cuối năm 2012 thì bà Trần Thu N, giữ chức vụ Giám đốc chi nhánh, ông Nguyễn Anh T4 giữ chức vụ: Phám đốc phòng khách hàng I - Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 - Chi nhánh H6. Đến năm 2013 thì bà N nghỉ hưu, ông T4 chuyển công tác, nên toàn bộ các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với các Thư bảo lãnh do V2 – Chi nhánh H6 phát hành để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, bà N và ông T4 đã bàn giao cho công ty khi nghỉ hưu và chuyển công tác. Tuy nhiên bà N và ông T4 xác định: Khi công ty cổ phần G gửi công văn và nộp hồ sơ yêu cầu V2 – Chi nhánh H6 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, T5 đã không xuất trình được Thư bảo lãnh gốc, nên khi hết thời hạn bảo lãnh thì V2 – Chi nhánh H6 đã ban hành công văn từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Vụ án đã được xét xử sơ thẩm lần 1: Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2014/KDTM-ST ngày 25/9/2014 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần G đối với công ty TNHH T8 về hợp đồng mua bán Tisco số 05/GT-TMTD ký ngày 01/01/2011. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH T8 về việc buộc Công ty cổ phần G phải thanh toán tiền cung ứng vật tư theo hợp đồng Than mỡ số 02/12/TM-HNA ngày 25/02/2013 là 5.033.151.200 đồng. Buộc Công ty TNHH T8 phải thanh toán cho Công ty cổ phần G số tiền cả gốc và lãi là 145.814.614.990 đồng. Buộc Công ty cổ phần G thanh toán cho Công ty TNHH T8 số tiền gốc và lãi là 10.762.959.824 của hợp đồng than mỡ số 02. Đối trừ các nghĩa vụ của Công ty cổ phần G và Công ty TNHH T8. Công ty T8 còn phải thanh toán cho Công ty cổ phần G số tiền là 135.051.655.163 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần G về việc buộc Ngân hàng Q1 phải thanh toán số tiền 73.369.818.250 đồng và 23.609.178.071 đồng lãi theo các thư bảo lãnh số 10.11.11.BL 326 ngày 06/10/2011 và thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL 342 ngày 22/10/2011. Ngoài ra bản án còn quyết định án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại bản án kinh doanh thương mại Phúc thẩm số 01/2015/KDTM- PT ngày 22/6/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty cổ phần G. Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2014/KDTM- ST ngày 25/9/2014 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Buộc Công ty TNHH T8 phải thanh toán cho Công ty cổ phần G số tiền cả gốc và lãi là 145.814.614.990 đồng. Buộc Công ty cổ phần G thanh toán cho Công ty TNHH T8 số tiền gốc và lãi là 10.762.959.824 của hợp đồng than mỡ số 02. Đối trừ các nghĩa vụ của Công ty cổ phần G và Công ty TNHH T8. Công ty T8 còn phải thanh toán cho Công ty cổ phần G số tiền là 135.051.655.163 đồng. Buộc các bên liên quan và bảo lãnh phải trả nợ thay cho Công ty TNHH T8. Phần còn lại Công ty TNHH T8 phải trả cho Công ty cổ phần G cụ thể như sau:

Buộc Ngân hàng TMCP Q1 phải trả cho Công ty cổ phần G 80.000.000.000 đồng.

Ngoài ra bản còn quyết định buộc trách nhiệm trả tiền giữa công ty CP C đối với Công ty cổ phần G và quyết định phần còn lại buộc Công ty TNHH T8 phải trả cho Công ty cổ phần G, quyết định về án phí.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 03/2016/KDTM-GĐT ngày 07/3/2016 của Uỷ ban Thẩm phán, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã nhận định:

Việc Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần G về việc buộc Ngân hàng Q1 phải thanh toán số tiền 73.369.818.250 đồng và 23.609.178.071 đồng lãi theo các thư bảo lãnh số 10.11.11.BL 326 ngày 06/10/2011 và thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL 342 ngày 22/10/2011 là có căn cứ. Toà án cấp phúc thẩm quyết định sửa án sơ thẩm với nhận định và quyết định là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án. Do đó khi xét xử lại vụ án nếu các bên không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ mới thì cần phải bác yêu cầu của T5 về việc buộc V2 thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thư bảo lãnh.

Về việc xử lý tài sản cầm cố theo hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC ngày 07/10/2011, Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã có những sai sót. Khi giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm không xem xét đánh giá đến thoả thuận về phương thức xử lý cổ phần cầm cố là thiếu sót. Còn Toà án cấp phúc thẩm quyết định buộc Công ty cổ phần C phải trả cho Công ty Cổ phần G 2.420.853 cổ phần trị giá 24.208.538.080 đồng là tài sản cầm cố của công ty TNHH T8 đã thế chấp cho Công ty G mà công ty cán thép T7 trung đang quản lý là không đúng quy định tại Điều 336 của Bộ luật dân sự.

Quyết định: Huỷ bản án kinh doanh Thương mại Phúc thẩm số 01/2015/KDTM- PT ngày 22/6/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2014/KDTM-ST ngày 25/9/2014 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Giao hồ sơ về cho Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm lần 2: Ông Nguyễn Anh T4 xác định việc bà Ngô Thu P và bà Nguyễn Thị Vân T3 khai đã cầm theo đầy đủ hồ sơ vi phạm và đã xuất trình Thư bảo lãnh gốc cho ông Nguyễn Anh T4 là không có căn cứ.

Nguyên đơn là Công ty cổ phần G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn công ty TNHH T8 vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 không nhất trí với yêu cầu của Nguyên đơn về việc buộc V2 – Chi nhánh H6 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL326 ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL342 ngày 22/10/2011; Công ty cổ phần C không có ý kiến gì về việc xử lý tài sản cầm cố và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn Luật sư Đỗ Thanh T1 trình bày: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, thấy có đủ căn cứ xác định tất cả các yêu cầu khởi kiện của công ty cổ phần G về việc tranh chấp đối với Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN ngày 01/01/2011 là có căn cứ; Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và buộc công ty TNHH T8 phải thanh toán cho T5 toàn bộ số tiền nợ gốc sau khi bù trừ là 87.343.026.871đ và khoản tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm; đồng thời tiến hành xử lý tài sản cầm cố 2.420.853 cổ phần, hiện đang quản lý tại công ty C theo phương thức xử lý quy định tại điểm C mục 5.3 Điều 5 của Hợp đồng cầm cố số 02/GTTN-KTTC và khoản 2 Điều 333 và Điều 336 của Bộ luật dân sự năm 2005 để thu hồi nợ.

Đối với yêu cầu khởi kiện buộc Ngân hàng Q1 phải thực hiện nghĩa vụ theo các Thư bảo lãnh: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có đủ căn cứ xác định trong thời hạn bảo lãnh T5 đã thực hiện đúng và đầy đủ các điều kiện của Thư bảo lãnh, cụ thể là: Tisco đã nộp đầy đủ hồ sơ tài liệu chứng minh Hà Nam vi phạm nghĩa vụ thanh toán và đã xuất trình Thư bảo lãnh gốc cho ông Nguyễn Anh T4, sau khi nhận hồ sơ và kiểm tra hồ sơ thì ông T4 trả lại Thư bảo lãnh cho T5. Việc V2 – Chi nhánh H6 giải thích khái niệm "xuất trình" trong Thư bảo lãnh có nghĩa là phải giao Thư bảo lãnh gốc cho bên Bảo lãnh là không phù hợp với ý trí của các bên khi tham gia giao dịch dân sự, không phù hợp với thông lệ thương mại và quy định tại khoản 1 Điều 27 của Quy chế bảo lãnh ngân hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 26/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng N2, trong trường hợp này cần giải thích giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 404 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T5, buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL326 ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL342 ngày 22/10/2011.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 trình bày tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa thấy việc T5 yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL326 và Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL342 là không có cơ sở, bởi các lý do sau:

  1. Tisco đã vi phạm điều kiện bảo lãnh về trình thư Bảo lãnh gốc và nộp hồ sơ chứng minh Hà Nam vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn bảo lãnh:

    Tại điểm a khoản 2 Điều 23 Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN quy định về việc “Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết". Theo cam kết bảo lãnh số 10.11.11.BL 326 và 10.11.11. BL.342 thì: “VIB - Chi nhánh H6 sẽ thay mặt cho Bên được bảo lãnh chịu trách nhiệm thanh toán cho B nhận bảo lãnh một khoản tiền tối đa bằng giá trị bảo lãnh sau khi nhận được văn bản yêu cầu đầu tiên của Bên nhận bão lãnh kèm theo hồ sơ chứng minh Bên được bảo lãnh đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Bên nhận bảo lãnh......Bất cứ yêu cầu nào liên quan đến bảo lãnh phải được xuất trình tại Bên bảo lãnh trong thời hạn của Thư bảo lãnh kèm theo Thư bảo lãnh gốc này". Tuy nhiên trong thời hạn bảo lãnh Tisco không xuất trình được Thư bảo lãnh gốc và cung cấp được đầy đủ hồ sơ chứng minh Hà Nam vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn Thư bảo lãnh còn hiệu lực.

  2. Đã hết thời hạn bảo lãnh: Thư bảo lãnh do V2 – Chi nhánh H6 phát hành có hiệu lực cuối cùng là đến 16 giờ ngày 22/01/2012. Khi Hà Nam không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán thì ngày 19/3/2012, T5 và Công ty T8 đã thỏa thuận gia hạn thời hạn trả nợ cho Hà N1 đến ngày 30/6/2012 (tức thỏa thuận gia hạn thời hạn trả nợ cho Bên được bảo lãnh đến ngày 30/6/2012), tuy nhiên việc gia hạn này không được sự đồng ý bằng văn bản của Bên Bảo Lãnh (V2 – Chi nhánh H6) và thực tế V2 – Chi nhánh H6 cũng không phát hành Thư bảo lãnh sửa đổi, bổ sung việc gia hạn bảo lãnh. Việc Bên Nhận Bảo Lãnh và Bên Được Bảo Lãnh thỏa thuận gia hạn thời hạn trả nợ mà không tiến hành các thủ tục gia hạn thời hạn bảo lãnh tại Bên Bảo Lãnh đã làm cho vượt quá thời hạn của Giao dịch bảo lãnh 03 bên. Vì vậy, thời điểm ngày 30/6/2012 được tính là vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Bên Được Bảo Lãnh đối với Bên Nhận Bảo Lãnh thì thời hạn của các Thư bảo lãnh đã hết (Từ 06/01/2012 và 22/01/2012). Như vậy, việc V2 – Chi nhánh H6 từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với T5 là hoàn toàn phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 27 - Quy chế bảo lãnh ngân hàng Ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng N2; Điều 43 Nghị định 163/2006/NĐ- CP ngày 29-12-2006 về Giao dịch bảo đảm; Văn bản số 1347/NHNN-TTGSNH ngày 10/3/2015 của Ngân hàng N2 gửi Kiểm toán Nhà nước và Văn bản số 4460/NHNN-TD ngày 25/06/2013 của Ngân hàng N2 gửi Công ty cổ phần G. Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu của T5 về việc buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thanh toán theo Thư bảo lãnh số 10.11.11. BL326 ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL342 ngày 22/10/2011.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/DS-ST n gày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã Quyết định:

  1. 1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần G về việc buộc Công ty TNHH T8 phải thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, ký ngày 01/01/2011 và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là 2.420.853 cổ phần theo Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC ngày 07/10/2011.
  2. 1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần G về việc buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL326, ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL342, ngày 22/10/2011.
  3. 1.3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH T8 về việc bừ trừ nghĩa vụ trả nợ vào khoản nợ của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, ngày 01/01/2011 (chấp nhận phần yêu cầu bù trừ khoản tiền lãi chậm trảlà 4.518.429.797đ của Hợp đồng mua bán than mỡ số 01-12/TM/TIS-HNA ngày 26/6/2012 vào khoản nợ lãi của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, ngày 01/01/2011; Không chấp nhận phần yêu cầu bù trừ giá trị tiền hàng là 5.033.151.200đ của Hợp đồng mua bán than mỡ số 02-12/TM/TIS-HNA ngày 25/02/2013 vào khoản nợ gốc của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, ngày 01/01/2011).

2. Về việc buộc thực hiện quyền nghĩa vụ theo hợp đồng:

2.1. Buộc công ty TNHH T8 phải thanh toán cho Công ty cổ phần G toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/3/2024) là 202.202.901.190đ (Hai trăm linh hai tỷ, hai trăm linh hai triệu, chín trăm linh một nghìn, một trăm chín mươi đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 87.343.026.871đ, nợ lãi là: 114.859.874.319đ.

2.2. Bù trừ khoản tiền nợ lãi chậm thanh toán là 4.518.429.797đ của Công ty cổ phần G trong Hợp đồng mua bán than mỡ số 01-12/TM/TIS-HNA ngày 26/6/2012 vào khoản nợ lãi của Công ty TNHH T8 trong Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, ngày 01/01/2011, thì số tiền nợ lãi mà Công ty TNHH T8 phải trả cho Công ty cổ phần G tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/3/2024) là: 114.859.874.319đ - 4.518.429.797đ = 110.341.444.522đ (Một trăm mười tỷ, ba trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi hai đồng).

2.3. Sau khi bù trừ Công ty TNHH T8 phải thanh toán cho Công ty cổ phần G toàn bộ khoản tiền nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/3/2024) là 197.684.471.393đ (Một trăm chín mươi bảy tỷ, sáu trăm tám mươi tư triệu, bốn trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm chín mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là: 87.343.026.871đ (Tám mươi bảy tỷ, ba trăm bốn mươi ba triệu, không trăm hai mươi sáu nghìn, tám trăm bảy mươi mốt đồng), nợ lãi là: 110.341.444.522đ(Một trăm mười tỷ, ba trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi tư nghìn, năm trăm hai mươi hai đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm Công ty TNHH T8 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất quy định của Tổng giám đốc công ty cổ phần G tại thời điểm thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3. Về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: Trường hợp Công ty TNHH T8 không thanh toán được cho công ty Cổ phần G các khoản tiền trên, thì công ty cổ phần G có quyền xử lý tài sản cầm cố là toàn bộ 2.420.853 cổ phiếu phổ thông, Mã chứng khoán: TTS theo một trong các phương thức quy định tại mục 5.3 Điều 5 của Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC ngày 07/10/2011 hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại toàn bộ 2.420.853 cổ phiếu phổ thông, Mã chứng khoán: TTS (hiện đang quản lý tại công ty C và đã được đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán Sở G1) để thu hồi nợ.

Khi tiến hành xử lý tài sản cầm cố:

- Trường hợp Công ty cổ phần G xử lý tài sản cầm cố theo phương thức quy định tại mục 5.3 Điều 5 của Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC thì việc xác định giá trị tài sản cầm cố để thu hồi nợ được thực hiện theo quy định tại mục 1.4 Điều 1 của Hợp đồng cầm cố cổ phần số 02/GTTN-KTTC, ngày 07/10/2011.

- Nếu số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong giới hạn bảo đảm (22.998.111.176đ) thì Công ty TNHH T8 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán cho T5 số tiền nợ gốc và nợ lãi còn lại của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố lớn hơn giới hạn bảo đảm (vượt quá số tiền 22.998.111.176đ) thì khoản tiền vượt quá giới hạn bảo đảm được trả lại công ty TNHH T8 để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN ngày 01/01/2011.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 05/4/2024 (theo dấu công văn đến là ngày 09/4/2024) Công ty cổ phần G, người đại diện theo uỷ quyền bà Nguyễn Thị T kháng cáo một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm với nội dung: đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên sửa một phần bản án số 03 theo hướng buộc Ngân hàng V2 thanh toán cho T5 số tiền nợ gốc và lãi chậm trả phát sinh thuộc phạm vi bảo lãnh theo các Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL 326 ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL 342 ngày 22/10/2011.

Tại phiên tòa nguyên đơn và giữ nguyên nội dung kháng cáo, trình bày các căn cứ kháng cáo và tranh luận: Nội dung kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ, phía Ngân hàng cho rằng T5 không xuất trình chứng cứ thư bảo lãnh gốc cho Ngân hàng, T5 không nhất trí. Vì T5 đã xuất trình toàn bộ thư bảo lãnh gốc cho ông T4 là người phụ trách Ngân hàng và đã cung cấp toàn bộ hồ sơ thể hiện phía công ty T8 không có khả năng thanh toán, ông giám đốc Ngân hàng đã tiếp nhận hồ sơ, phía Ngân hàng cho rằng Tisco xuất trình hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ để xác định Hà N1 không có khả năng thanh toán cho T5 là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Hồ sơ cung cấp cho Ngân hàng có danh mục liệt kê các thời hạn thanh toán của công ty T8 đã vi phạm, Công ty T8 không hoàn thành trách nhiệm thanh toán cho T5 được ghi rõ trong các hóa đơn mà công ty T8 đã quá thời hạn thanh toán tiền. Khi T5 nộp hồ sơ yêu cầu Ngân hàng V2 thực hiện thư bảo lãnh thì phía Ngân hàng không có yêu cầu nào cho rằng T5 cung cấp hồ sơ chưa đầy đủ hay cần Tisco bổ sung những tài liệu gì để Tisco bổ sung hồ sơ hợp lệ cho Ngân hàng. Điều đó chứng tỏ Ngân hàng V2 đã cố tình trốn tránh trách nhiệm về việc thực hiện thư bảo lãnh. Không có căn cứ nào quy định phải có xác nhận nợ của công ty T8. Tại biên bản làm việc ngày 19/3/2012 chỉ là ý kiến trao đổi giữa các bên, không có thỏa thuận gia hạn trả nợ giữa T5 và Hà Nam. Phía Tisco khẳng định đã thực hiện đầy đủ hồ sơ để yêu cầu VIB thực hiện thư bảo lãnh, đề nghị Hội đồng xét xử công tâm khách quan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công ty T10. Buộc Ngân hàng V2 phải thực hiện nghĩa vụ theo hai thư bảo lãnh số 326 và 342 cho Công ty T10 tổng số tiền 80 tỷ đồng.

Đại diện của Ngân hàng TMCP Q1 không nhất trí toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng V2 trình bày quan điểm bảo vệ: Thư bảo lãnh số 326 và 342 không trái quy định của pháp luật, thỏa thuận giữa công ty T8 và Ngân hàng V2 là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo đúng qui định. Về nội dung củacác thư bảo lãnh 326 và 342 đã quy định rất rõ về điều kiện thực hiện bảo lãnh phải có thư bảo lãnh gốc, phía Tisco không cung cấp cho Ngân hàng thư bảo lãnh gốc và không đưa ra các chứng cứ chứng minh công ty T8 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho T5. Về thời hạn trả nợ cho T5: Tisco có thỏa thuận gia hạn cho công ty T8 trả nợ đến ngày 30/6/2012. Như vậy, hai bên đã tự ý thỏa thuận trả nợ ngoài thời hạn thư bảo lãnh số 326 và 342 mà phía Ngân hàng V2 không có thỏa thuận gia hạn thực hiện thư bảo lãnh. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần G, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Công ty cổ phần G phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của Công ty cổ phần G, làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của Công ty cổ phần G, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Thực hiện hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN ngày 01/01/2011. Tisco đã bán thép cho Công ty TNHH T8 nhưng công ty T8 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dẫn đến phát sinh công nợ. Hiệu lực của hợp đồng kể từ ngày ký cho đến hết ngày 28/02/2012.

Ngoài các hợp đồng nêu trên: Hà Nam và T5 còn ký các hợp đồng: Hợp đồng mua bán phôi số 02-12/PT/TIS-HAN ký ngày 15/02/2012; Hợp đồng mua bán than mỡ số 01-12/TM/TIS - HNA ngày 26/6/2012 (gồm: Phụ lục số 01PL, ngày 05/7/2012; Phụ lục số 02PL, ngày 30/8/2012; phụ lục 03PL, ngày 07/11/2012); Hợp đồng mua bán than mỡ số 02-12/TM/TIS-HNA ngày 25/02/2013.

Công ty cổ phần G và công ty TNHH T8 đã đối chiếu công nợ và bù trừ nghĩa vụ thanh toán với các hợp đồng theo yêu cầu phản tố của công ty T8. Tại bản án sơ thẩm nhận định sau khi bù trừ số tiền nợ gốc và nợ lãi mà Hà N1 phải thanh toán cho T5 của Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN tính đến ngày xét xử sơ thẩm (25/3/2024) là 197.684.471.393đ(Trong đó: Nợ gốc là 87.343.026.871đ; Nợ lãi là 110.341.444.522đ) và buộc công ty T8 phải thanh toán cho công ty cổ phần G số tiền nêu trên, các đương sự nhất trí, không kháng cáo.

Đối với việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 - Chi nhánh H6:

Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của công ty T8 đối với Hợp đồng mua bán thép Tisco số 05/GT-HN. Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 Chi nhánh H6 đã phát hành 06 thư bảo lãnh thanh toán với tổng giá trị bảo lãnh là 250 tỷ đồng. Trong đó có Thư bảo lãnh số 10.11.11.BL326 ngày 06/10/2011, giá trị bảo lãnh là 50 tỷ, thời hạn bảo lãnh từ 16 giờ ngày 06/10/2011 đến 16 giờ ngày 06/01/2012 và thư bảo lãnh số 10.11.11.BL342 ngày 22/10/2022, giá trị bảo lãnh là 30 tỷ, thời hạn bảo lãnh từ ngày 22/10/2011 đến 16 giờ ngày 22/01/2012.

Về nội dung của các thư bảo lãnh đều quy định về điều kiện để VIB thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đó là: Bên bảo lãnh (V2- Chi nhánh H6) sẽ thay mặt cho Bên được bảo lãnh (Hà Nam) chịu trách nhiệm thanh toán cho Bên nhận bảo lãnh (T10) một khoản tiền tối đa bằng giá trị bảo lãnh sau khi nhận được văn bản yêu cầu đầu tiên của bên nhận bảo lãnh kèm theo hồ sơ chứng minh bên được bảo lãnh đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng. Bất cứ yêu cầu nào liên quan đến bảo lãnh phải được xuất trình tại Bên bảo lãnh trong thời hạn bảo lãnh của Thư bảo lãnh kèm theo Thư bảo lãnh gốc. Việc quy định nêu trên của V2 là phù hợp với quy định trong Hồ sơ đề nghị bảo lãnh ( tại Điều 9) và khoản 1 Điều 27 (thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh) của quy chế Ngân hàng được ban hành kèm theo quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng N2.

Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy: Trong thời hạn bảo lãnh Công ty cổ phần G không nộp đầy đủ hồ sơ, thư bảo lãnh gốc cho V2 – Chi nhánh H6 và tài liệu chứng minh Công ty T8 vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định: Không có đủ cơ sở để xác định trong thời hạn bảo lãnh Tisco đã nộp đầy đủ hồ sơ và xuất trình Thư bảo lãnh gốc cho V2 – Chi nhánh H6. Từ đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần G về việc buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL326, ngày 06/10/2011 và Thư bảo lãnh thanh toán số 10.11.11.BL342, ngày 22/10/2011 là có căn cứ.

Hội đồng xét xử, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty Cổ phần G. Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công ty Cổ Phần G là không có cơ sở..

Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên và của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng TMCP Q1 chi nhánh H6 tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[3.] Về án phí. Do kháng cáo không được chấp nhận, do vậyCông ty cổ Phần Gang thép T11 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty G.

Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Án phí phúc thẩm: Công ty G phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000đồng (hai triệu đồng) được khấu trừ vào số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng) tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp theo biên lai thu số 0002708 ngày 10/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TPTN;
  • - THADS TPTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/KDTMPT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 08/2024/KDTMPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty G. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger