|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 08/2024/DS -ST Ngày: 16 - 4 - 2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng". |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nghệ
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hương Thảo và bà Đỗ Thị Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 76/2023/TLST-DS, ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST - DS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Ngọc V – Chủ tịch HĐQT.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thành C – Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ - Trung tâm Quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ - Khối Ngân hàng bán lẻ V1, vắng mặt;
- Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Văn K – Cán bộ Ngân hàng V1. Có mặt.
Địa chỉ: Tầng D, tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962. Vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963. Vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Sơn T2, sinh năm 1937 và bà Tô Thị L, sinh năm 1940. (đều xin vắng mặt).
Cùng trú tại: Thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Văn K trình bày:
Ngày 08/8/2018 Ngân hàng TMCP Q chi nhánh H2 có cấp tín dụng cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng tín dụng số 0331.HĐTD1-420.18 vay số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng), số tiền giải ngân 400.000.000₫ theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0331.01.KUNN1-420.18 ngày 09/8/2018, thời hạn vay 180 tháng từ ngày 10/8/2018 đến ngày 09/8/2033, mục đích vay bổ sung vốn sửa chữa nhà ở không làm thay đổi kết cấu và mua sắm vật dụng gia đình. Lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,2%/năm, được điều chỉnh 3 tháng/lần. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông T, bà Thư ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0331.HDDTC1 – 420.18 ngày 08/8/2018 thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 2 (115-74) diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 996329 do UBND huyện Q cấp ngày 23/02/2009; Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 0331.HDDTCSP1-420.18 ngày 08/8/2018 thế chấp tài sản trên đất là nhà ở diện tích 60m² trên thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 2 (115-74) diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu của ông T, bà T1.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông T và bà T1 đã trả được cho ngân hàng số tiền 312.061.100đ, trong đó tiền gốc: 131.157.000đ; nợ lãi 179.758.050đ, nợ lãi quá hạn: 1.146.050đ. Ông T, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho ngân hàng. Ngày 14/11/2022 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay thành nợ quá hạn. Đến ngày 16/4/2024 ông T, bà T1 còn nợ ngân hàng số tiền 323.300.664₫, trong đó: nợ gốc: 268.843.000đ, nợ lãi: 50.456.534đ; nợ lãi quá hạn: 4.001.130đ. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho Ngân hàng Q số tiền tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 323.300.664₫, trong đó: nợ gốc: 268.843.000đ, nợ lãi: 50.456.534đ; nợ lãi quá hạn: 4.001.130đ. Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng đã ký và theo quy định của pháp luật kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán khoản vay cho Ngân hàng.
Trường hợp ông T, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 2 (115-74) diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 996329 do UBND huyện Q cấp ngày 23/02/2009 và các tài sản trên đất để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản đảm bảo không đủ nghĩa vụ trả nợ đề nghị Tòa án tuyên ông T, bà T1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng.
Tại bản tự khai ngày 16/11/2023 bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông thống nhất với lời khai của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng, các hợp đồng thế chấp, số tiền, mục đích, thời hạn vay, số tiền giải ngân. Quá trình vay vốn vợ chồng ông bà đã trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 27/6/2023 là 298.723.100đ. Vì điều kiện dịch bệnh covid làm ăn khó khăn, kinh doanh hàng chậm và phải nuôi bố mẹ già yếu nên việc làm ăn của ông bà bị trì trệ. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông bà trả nợ, ông thống nhất với số dư nợ tính đến ngày 27/6/2023, ông đề nghị ngân hàng cho ông trả số nợ còn lại trả dần 3 lần trong năm 2024.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T1 đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày cho Toà án về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại các biên bản lấy lời khai ngày 23/11/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sơn T2 và bà Tô Thị L trình bày:
Ông bà là bố mẹ đẻ của ông Nguyễn Văn T. Thửa đất số 1106, tờ bản đồ 02 (115-74), diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An được cấp GCN QSD đất tên Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 có nguồn gốc do vợ chồng ông bà tặng cho ông T, bà T1 để dễ vay mượn. Tại thời điểm ông T, bà Thư ký hợp đồng thế chấp, tài sản trên đất là 01 nhà ở diện tích 60m² là do vợ chồng ông bà xây dựng. Vợ chồng ông bà sinh sống trên thửa đất trên từ năm 1985 đến nay, sau khi vợ chồng ông T vỡ nợ thì về sống với ông bà. Sau khi tặng cho ông bà biết ông T, bà T1 vay vốn ngân hàng, thế chấp tài sản nhưng không biết vay vào thời gian nào. Tháng 02/2021 vợ chồng ông bà có cơi nới, sửa chữa nhà ở cấp bốn trên nền nhà cũ diện tích 60m², xây bếp, công trình vệ sinh khép kín diện tích 25m², liền kề với nhà ở của vợ chồng ông, ông T có xây 01 ốt quán lợp tôn diện tích 17m² sử dụng làm chỗ sinh hoạt. Ông, bà đề nghị ngân hàng tạo điều kiện về thời gian cho ông T, bà T1 trả nợ. Nếu ông T không trả nợ cho ngân hàng Q đề nghị chỉ phát mãi phần đất chưa xây dựng tài sản, còn phần đất có nhà của ông bà, ông bà không đồng ý. Ông bà đề nghị được vắng mặt tại tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/11/2023 như sau:
Thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 02 (115-74), diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An (bản đồ địa chính), nay là thửa đất số 29, tờ bản đồ số 8, diện tích 175,9m² (bản đồ địa chính dạng số). Thửa đất có vị trí kích thước: Phía Bắc giáp thửa đất số 16, tờ bản đồ số 98 do bà Tô Thị H sử dụng kích thước 10,16m; Phía nam giáp thửa đất số 19, tờ bản đồ số 08 do ông Nguyễn Văn H1 sử dụng kích thước 5,9m + 0,2m; Phía Nam giáp thửa đất số 25, tờ bản đồ số 08 do ông Nguyễn Tiến L1 sử dụng kích thước 14,18m + 2,64m; Phía Đông giáp đường thôn kích thước 0,25m + 5,69m + 3,02m + 1,58m' Phía Tây giáp thửa đất số 26 do ông Đoàn C1 sử dụng kích thước 10,57m. Trên đất có 01 nhà cấp 4 lợp ngói ba gian, rui chồng, tường sò, lát gạch liên doanh diện tích 60m², liền kề với nhà cấp bốn về phía Bắc có 01 ốt quán, lợp tôn, diện tích 17m² được xây mới năm 2021, 01 nhà bếp lợp tôn có công trình vệ sinh khép kín lát gạch liên doanh diện tích 25m² được xây mới năm 2021.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; Người tham gia tố tụng trong vụ án là nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định tại Điều 70, 71, 86 BLTTDS; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72, 73 BLTTDS.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Áp dụng Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147 BLTTDS; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và áp duạng án phí, lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 16/4/2024 là 323.300.664đ, trong đó: nợ gốc: 268.843.000đ, nợ lãi: 50.456.534đ; nợ lãi quá hạn: 4.001.130đ và toàn bộ lãi phát ssinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã ký.
Trường hợp ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 2 (115-74) diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 996329 do UBND huyện Q cấp ngày 23/02/2009 và các tài sản trên đất để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Trong trường hợp ông T và bà T1 thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng phải trả lại toàn bộ giấy tờ sở hữu gốc đối với tài sản mà bị đơn đã thế chấp tại Ngân hàng.
Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí; Điều 147 BLTTDS năm 2015. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 có nơi thường trú tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị đơn: ông T, bà T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông T2, bà L đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sơn T2 và bà Tô Thị L.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về yêu cầu thanh toán khoản vay của Ngân hàng:
Hợp đồng cho vay tiêu dùng số 0331.HĐTD1-420.18 ngày 08/8/2018 giữa Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện. Nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái quy định của pháp luật, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức hợp đồng. Do đó hợp đồng các bên đã ký kết là hợp pháp, có hiệu lực đối với hai bên và cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình thực hiện các hợp đồng, nguyên đơn đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của bên cho vay là giao đủ tiền theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0331.01.KUNN1 -420.18 ngày 09/8/2018 và hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký. Tuy nhiên, về phía bị đơn ông T, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Ngày 29/12/2022 Ngân hàng đã ban hành thông báo số 143972.22 về việc thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn, áp dụng lãi suất quá hạn/lãi chậm trả được thực hiện từ ngày 10/01/2023.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đề nghị ngân hàng tạo điều kiện về thời gian cho vợ chồng ông bà trả dần. Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, ông T, bà T1 là vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận đây là khoản nợ chung của ông T, bà T1. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông T, bà T1 trả số tiền nợ gốc và các khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký (lãi quá hạn, lãi chậm trả) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên cần chấp nhận. Mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên cần buộc ông T, bà T1 trả cho ngân hàng khoản tiền lãi tạm tính đến ngày 16/4/2024 như nguyên đơn yêu cầu là có căn cứ, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 323.300.664đ và toàn bộ lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
[2.2]. Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Ngân hàng trong trường hợp ông T, bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0331.HĐTC1 – 420.18 ngày 08/8/2018 thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 2 (115-74) diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 996329 do UBND huyện Q cấp ngày 23/02/2009 được ký kết giữa Ngân hàng với Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 đều được ký kết bởi người đại diện hợp pháp của bên nhận thế chấp là Ngân hàng và bên thế chấp là người có quyền sử dụng hợp pháp là ông T, bà T1. Các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội. Quá trình giải quyết vụ án ông T thừa nhận việc ký hợp đồng thế chấp là tự nguyện, đảm bảo nghĩa vụ cho khoản vay tín dụng của vợ chồng ông bà với ngân hàng, trường hợp ông bà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ ông cũng đồng ý xử lý tài sản thế chấp. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 0331.HĐTC1 – 420.18 ngày 08/8/2018 có hiệu lực pháp luật và buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Trong trường hợp ông T, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu chi cục thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp là có căn cứ chấp nhận.
Xét Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 0331.HĐTCSP1-420.18 ngày 08/8/2018 thế chấp tài sản trên đất là nhà ở diện tích 60m² trên thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 2 (115-74) diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu của ông T, bà T1. Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sơn T2 và bà Tô Thị L là bố mẹ đẻ của ông T khai nguồn gốc tài sản thế chấp là tài sản của ông bà, các tài sản trên đất hiện nay do ông bà, vợ chồng ông T, bà T1 xây dựng. Ông, bà không đồng ý với việc xử lý tài sản đảm bảo là nhà ở diện tích 60m². Tuy nhiên tại thời điểm ông T, bà Thư ký hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất ông S bà L biết việc thế chấp, không phản đối việc thế chấp. Tại mục 2.3 Điều 2 Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 0331.HĐTCSP1-420.18 ngày 08/8/2018 quy định: “Bất kì sự thay đổi (bao gồm cả việc xây dựng mới/tạo lập thêm tài sản khác gắn liền trên thửa đất), sửa chữa, nâng cấp nào của bên B đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không tách rời thuộc tài sản thế chấp”. Do đó, Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 0331.HĐTCSP1-420.18 ngày 08/8/2018 có hiệu lực pháp luật và buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Trong trường hợp ông T, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu chi cục thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp là có căn cứ chấp nhận.
Sau khi nghĩa vụ được thanh toán đầy đủ bên nhận thế chấp sẽ chuyển giao cho bên thế chấp toàn bộ các giấy tờ tài sản thế chấp (trừ trường hợp tài sản thế chấp bị xử lý.)
[3]. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP Q đã nộp số tiền tạm ứng chi phí tố tụng, yêu cầu bị đơn hoàn trả chi phí này cho Ngân hàng. Buộc bị đơn ông T, bà T1 phải chịu chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
[4]. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 phải phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011; Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q.
- Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền nợ tính đến ngày 16/4/2024 theo Hợp đồng cho vay tiêu dùng số 0331.HĐTD1-420.18 ngày 08/8/2018 là 323.300.664₫ (Ba trăm hai mươi ba triệu ba trăm nghìn sáu trăm sáu mươi tư đồng), trong đó: nợ gốc: 268.843.000₫ (Hai trăm sáu mươi tám triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng), nợ lãi: 50.456.534đ (Năm mươi triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm ba mươi tư đồng); nợ lãi quá hạn: 4.001.130₫ (Bốn triệu không trăm linh một nghìn một trăm ba mươi đồng).
- Trường hợp ông T, bà T1 không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ của Hợp đồng cho vay tiêu dùng số 0331.HĐTD1-420.18 ngày 08/8/2018 thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: quyền sử dụng thửa đất số 1106, tờ bản đồ số 2 (115-74) diện tích 125m² tại thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 996329 do UBND huyện Q cấp ngày 23/02/2009 và các tài sản trên đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0331.HĐTC1 – 420.18 ngày 08/8/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 0331.HĐTCSP1-420.18 ngày 08/8/2018.
Sau khi nghĩa vụ được thanh toán đầy đủ bên nhận thế chấp sẽ chuyển giao cho bên thế chấp toàn bộ các giấy tờ tài sản thế chấp (trừ trường hợp tài sản thế chấp bị xử lý.)
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 17/4/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay tiêu dùng số 0331.HĐTD1-420.18 ngày 08/8/2018. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 16.165.000đ (Mười sáu triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 7.774.000₫ (Bảy triệu bảy trăm bảy mươi tư nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000490 ngày 25/10/2023.
Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q Chi phí tố tụng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản sao bản án được niêm yết lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị N |
9
10
Bản án số 08/2024/DS -ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 08/2024/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng TMCP Q và Nguyễn Văn T
