TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày: 14-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tô Đình Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Học
Bà Lục Thị Cương
- Thư ký phiên toà: Bà Anh Thị Thanh Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang tham
gia phiên toà: Ông Dương Đức Thiên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 24/5/2024 đối với bị cáo:
Dương Thị M;
tên gọi khác: không; sinh năm 2003 tại xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà bà Dương Thị P, sinh năm 1985; có chồng là Vùi Ngọc H, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Các bị hại:
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ A thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Hoàng Thị L, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Tổ D thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
Người làm chứng:
- + Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; có mặt.
- + Hoàng Thị L1, sinh năm 1997; vắng mặt.
- + Viên Thị H1, SN: 2005; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 9/2023, Dương Thị M, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang sử dụng tài khoản Facebook là Dương Thị Ngọc M1, có xem được 01 clip hướng dẫn cách sử dụng ứng dụng Facebook để chỉnh sửa hình ảnh trên mục đăng tin 24 giờ, M1 đã nảy sinh ý định sử dụng các thao tác trên để chỉnh sửa nội dung ảnh chụp có sẵn về việc chuyển khoản qua ứng dụng M2 (ứng dụng ngân hàng M2) để lừa đảo tại các cửa hàng tạp hóa trên địa bàn huyện Q, tỉnh Hà Giang. Hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Tại quán T1 do chị Hoàng Thị L, sinh năm 1984, trú tại tổ D, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang làm chủ: Tháng 10/2023 M1 đã đến quán T1 để mua hàng. Sau đó sử dụng tài khoản ngân hàng M2 có số tài khoản là 0342001582, mang tên DUONG THI MAI để chuyển khoản cho nhân viên bán hàng, sau đó chụp ảnh màn hình để lưu lại hình ảnh thông báo đã chuyển khoản thành công, với mục đích để lần tiếp theo sẽ sử dụng hình ảnh chuyển tiền trước đó để chỉnh sửa lại nội dung để lừa nhân viên bán hàng khi đến mua hàng. Đến ngày 10/10/2023, Dương Thị M1 đến quán T1 gặp nhân viên bán hàng là chị Hoàng Thị L1, sinh năm 1997, trú tại thôn B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang và chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993, trú tại thôn N, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang để mua hàng gồm các loại mặt hàng như: Bỉm, sữa, váng sữa, bánh, kẹo..., sau khi chọn các mặt hàng xong, M1 ra quầy để thanh toán thì được nhân viên bán hàng báo giá tiền các mặt hàng vừa mua, lợi dụng lúc nhân viên không để ý, M1 đã vào ứng dụng M2 trong điện thoại của mình, giả vờ quét mã QR để chuyển tiền như mọi lần, rồi vào ứng dụng Facebook, vào mục tạo tin 24 giờ và tải hình ảnh đã giao dịch thành công trước đó đã lưu trên máy, rồi tiến hành chỉnh sửa thời gian giao dịch, số tài khoản, tên tài khoản. Sau khi chỉnh sửa xong thì lưu ảnh, rồi vào kho ảnh trên điện thoại mở hình ảnh vừa chỉnh sửa cho nhân viên bán hàng xem và chụp lại để xác nhận đã giao dịch thanh toán thành công. Quá trình thanh toán M1 thường cho nhân viên xem hình ảnh giao dịch có số tiền cao hơn giá trị hàng hoá đã mua và yêu cầu nhân viên là trả lại tiền thừa, với mục đích để lừa đảo tiền mặt. Trong quá trình lừa đảo, M1 đã sử dụng tổng cộng 03 tài khoản ngân hàng M2 là DUONG THI MAI, số tài khoản 0342001582 (tài khoản của M1), M3, số tài khoản 035556969 (M1 tự ý lấy tài khoản của Mai Thị V, sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang, là bạn chơi cùng với M1); DUONG THI LIEN, số tài khoản 0978457124 (do M1 tự nghĩ ra tên chủ tài khoản và số tài khoản rồi chỉnh sửa vào giao dịch thanh toán tiền). Sau khi chụp lại ảnh màn hình điện thoại của M1, các nhân viên bán hàng tại quán T1 đã gửi ảnh đã chụp cho chủ cửa hàng là Hoàng Thị L, sinh năm 1984, trú tại tổ D, thị trấn T, huyện Q. Tuy nhiên do số lượng giao dịch lớn nên chủ cửa hàng
không phát hiện ra. Đến ngày 20/02/2024 chị Hoàng Thị L chủ tạp hóa Liên Luân kiểm tra lại và cộng sổ, đối chiếu số tài khoản giao dịch mua bán hàng thì phát hiện ảnh chụp từ các tài khoản ngân hàng DUONG THI MAI, số tài khoản 0342001582, MAI THỊ VAN, số tài khoản 035556969 và DUONG THI LIEN, số tài khoản 0978457124 chuyển cho tài khoản của chị L không phát sinh giao dịch, biết bị lừa, chị đã đến Công an huyện để trình báo. Với phương thức, thủ đoạn lừa đảo như trên, từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/02/2024, Dương Thị M1 đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tiền và hàng hóa gồm: Sữa, bánh, kẹo, bỉm, nước uống.... của quán T1” tổng cộng 16 lần với tổng số giá trị hàng hóa và tiền mặt là 8.120.000 đồng (Tám triệu một trăm hai mươi nghìn đồng), cụ thể như sau:
- Lần 1, ngày 10/10/2023, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng).
- Lần 2, ngày 14/11/2023, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 450.000 đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
- Lần 3, ngày 16/11/2023, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 520.000 đ (Năm trăm hai mươi nghìn đồng).
- Lần 4, ngày 26/11/2023, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 600.000 đ (Sáu trăm nghìn đồng).
- Lần 5, ngày 28/11/2023, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 600.000 đ (Sáu trăm nghìn đồng).
- Lần 6, ngày 30/11/2023, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 600.000 đ (Sáu trăm nghìn đồng).
- Lần 7, ngày 28/12/2023, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng).
- Lần 8, ngày 03/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 550.000 đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Lần 9, ngày 05/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Lần 10, ngày 07/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 550.000 đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Lần 11, ngày 12/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 550.000 đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Lần 12, ngày 15/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 550.000 đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Lần 13, ngày 17/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 550.000 đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Lần 14, ngày 27/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 550.000 đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Lần 15, ngày 07/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng).
- Lần 16, ngày 19/02/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 550.000 đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại cơ sở tạp hóa N1, do chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1985, trú tại tổ A thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang làm chủ quán gồm 02 cơ sở, cơ sở 1 tại tổ B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang do chị Nguyễn Thị N trực tiếp điều hành, cơ sở 2 do chị Viên Thị H1, sinh năm 2005, trú tại thôn N, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang là nhân viên trực tiếp bán hàng. Cũng bằng cách thức lừa đảo tương tự, từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/02/2024 Dương Thị M1 đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tiền và hàng hóa gồm: Sữa, bánh, kẹo, bỉm, nước uống.... của quán T2 tổng cộng 8 lần, với tổng giá trị hàng hóa và tiền mặt là 3.245.000 đồng (Ba triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), cụ thể như sau:
- Lần 1, ngày 12/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 680.000 đ (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
- Lần 2, ngày 13/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 425.000 đ (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
- Lần 3, ngày 18/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 440.000 đ (Bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Lần 4, ngày 29/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 180.000 đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng).
- Lần 5, ngày 30/01/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Lần 6, ngày 01/02/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 440.000 đ (Bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Lần 7, ngày 17/02/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Lần 8, ngày 19/02/2024, M1 đã lừa đảo tiền hàng hóa và tiền mặt, tổng cộng là 680.000 đ (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại Biên bản nhận dạng hồi 14 giờ 20 ngày 19/3/2024, hồi 13 giờ 30 ngày 19/3/2024, hai người làm chứng là nhân viên bán hàng đều nhận dạng người đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của cửa hàng tạp hóa bằng hình thức chuyển khoản qua điện thoại là cùng một người tên Dương Thị M1.
Hồi 20 giờ 55 phút ngày 20/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành cho Dương Thị M1 thực hiện thao tác trên điện thoại thực hiện lại hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc thao tác được tiến hành ghi hình có âm thanh.
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 23/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành kiểm tra điện thoại di động và cho Hoàng Thị L1 là nhân viên bán hàng tại cửa hàng T3 giải trình nội dung các hình ảnh chụp màn hình giao dịch ngân hàng do Dương Thị M1 chỉnh sửa đưa cho Hoàng Thị L1 chụp lại làm căn cứ.
Hồi 08 giờ 40 phút ngày 27/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành kiểm tra điện thoại di động và cho Nguyễn Thị T là nhân viên bán hàng tại cửa hàng T3 giải trình nội dung các hình ảnh chụp màn hình giao dịch ngân hàng do Dương Thị M1 chỉnh sửa đưa cho Nguyễn Thị T chụp lại làm căn cứ.
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 10/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành kiểm tra điện thoại di động và cho Viên Thị H1 là nhân viên bán hàng tại cửa hàng T4 giải trình nội dung các hình ảnh chụp màn hình giao dịch ngân hàng do Dương Thị M1 chỉnh sửa đưa cho Viên Thị H1 chụp lại làm căn cứ.
Hồi 19 giờ 00 phút ngày 20/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động và cho Dương Thị M1 giải trình nội dung, hình ảnh có trong máy điện thọai của Dương Thị M1. Quá trình kiểm tra phát hiện trong máy có nhiều hình ảnh giao dịch ngân hàng đã được cắt ghép, chỉnh sửa. Quá trình làm việc Dương Thị M1 giải trình: bản thân sử dụng ứng dụng Banking của Ngân hàng M2 sử dụng tài khoản DUONG THỊ MAI 0342001582 và và tài khoản MAI THI VAN 035556969 do bản thân mượn của bạn là Mai Thị V, sinh năm 1998 trú tại thôn X, xã N, huyện Q còn tài khoản DUONG THI LIEN 0978457124 là do M1 tự nghĩ ra. Hình thức lừa đảo là M1 đến mua hàng tại quầy tạp hóa rồi chuyển khoản và chụp ảnh màn hình để lấy thông tin đại lý sau đó lần tiếp theo đến mua hàng và vào ứng dụng M2 trong điện thoại của mình, giả vờ quét mã QR để chuyển tiền như mọi lần, rồi vào ứng dụng Facebook, vào mục tạo tin 24 giờ và tải hình ảnh đã giao dịch thành công trước đó đã lưu trên máy, rồi tiến hành chỉnh sửa thời gian giao dịch, số tài khoản, tên tài khoản. Sau khi chỉnh sửa xong thì lưu ảnh, rồi vào kho ảnh trên điện thoại mở hình ảnh vừa chỉnh sửa cho nhân viên bán hàng xem và chụp lại để xác nhận đã giao dịch thanh toán thành công.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang thu giữ: 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, hiệu Iphone X của bị can Dương Thị M1.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKSQB ngày 08/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Dương Thị Mai về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Dương Thị M1, phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Thị M1 từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp và đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo Dương Thị M1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả gây ra, cụ thể:
- Bị cáo đã bồi thường cho chị Hoàng Thị L, sinh năm 1984, trú tại tổ D, thị trấn T, huyện Q - là chủ quán T1 với số tiền 8.120.000đ (Tám triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1985, trú tại tổ A, thị trấn T, huyện Q - là chủ quán tạp hóa Ngọc A với số tiền 3.245.000đ (Ba triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn). Việc giao nhận được lập thành biên bản có các bên ký nhận. Ngoài ra các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra Công an huyện Q đã thu giữ 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, hiệu Iphone X của bị can Dương Thị M1. Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo Dương Thị M1 trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tôi của mình, do không có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo được sớm trở về chăm sóc con nhỏ.
Các bị hại trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa: Các bị hại đều có lời khai đồng nhất. Bị cáo đã nhiều lần đến cửa hàng tạp hóa của các bị hại mua hàng và dùng cách thanh toán chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng, sau đó cho bị hại xem lại ảnh chụp màn hình thông báo đã chuyển khoản thành công. Các bị hại đã tin tưởng bị cáo nên không kiểm tra lại ngay. Đến khi kiểm kê lại các giao dịch chuyển khoản thì không có giao dịch của bị cáo, biết bị lừa nên đã đến tố giác với Cơ quan điều tra. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại đủ số tiền mà mà bị cáo đã lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Thị N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng Hoàng Thị L1, Viên Thị H1 vắng mặt, những người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử thảo luận và căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Dương Thị M1 đã thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản kiểm tra điện thoại của Dương Thị M1, các biên bản nhận dạng, lời khai của người làm chứng, biên bản thực hiện thao tác trên điện thoại có đủ căn cứ kết luận: Trong các ngày từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/02/2024 Dương Thị M1, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã lợi dụng việc quản lý không chặt chẽ của các tiệm tạp hóa trong việc nhận trả tiền mua hàng và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản, bị cáo đến mua hàng tại quầy tạp hóa rồi chuyển khoản và chụp ảnh màn hình để lấy thông tin đại lý sau đó lần tiếp theo đến mua hàng và vào ứng dụng M2 trong điện thoại của mình, giả vờ quét mã QR để chuyển tiền như mọi lần, rồi vào ứng dụng Facebook, vào mục tạo tin 24 giờ và tải hình ảnh đã giao dịch thành công trước đó đã lưu trên máy, rồi tiến hành chỉnh sửa thời gian giao dịch, số tài khoản, tên tài khoản. Sau khi chỉnh sửa xong thì lưu ảnh, rồi vào kho ảnh trên điện thoại mở hình ảnh vừa chỉnh sửa cho nhân viên bán hàng xem và chụp lại để xác nhận đã giao dịch thanh toán thành công. Ngoài tiền mua hàng hóa bị cáo còn chỉnh sửa số tiền mua hàng cao hơn hóa đơn để nhận tiền thừa với mục đích chiếm đoạt để tiêu sài cá nhân. Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại 02 cửa hàng tạp hóa, gồm: cửa hàng tạp hóa” Liên Luân” do chị Hoàng Thị L, sinh năm 1984, trú tại tổ D, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang làm chủ tổng cộng 16 lần với tổng số giá trị hàng hóa và tiền mặt là 8.120.000 đồng (Tám triệu một trăm hai mươi nghìn đồng. Tại của hàng tạp hóa “Ngọc A” do chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1985, trú tại tổ A thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang làm chủ tổng cộng 8 lần, với tổng giá trị hàng hóa và tiền mặt là 3.245.000 đồng (Ba triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền Dương Thị M1 chiếm đoạt là 11.365.000 đồng (Mười một triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn). Hành vi khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
[4] Bị cáo Dương Thị M1 là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, với tính chất, mức độ phạm tội, hậu quả mà bị cáo đã gây ra cần có mức hình phạt tương xứng, đảm bảo tác dụng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 02 lần hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp và đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không xem xét hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Đối với Mai Thị V, sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã Đ, huyện Q, quá trình điều tra xác định tài khoản MAI THỊ VAN 035556969 mà Dương Thị M1 sử dụng chiếm đoạt tài sản đúng là của Mai Thị V nhưng là do M1 đã tự ý lấy số tài khoản và tên Mai Thị V ở quán bán hàng của V mà chưa được sự cho phép nên không xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ án.
[8] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra Công an huyện Q đã thu giữ 01 (một) Điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, hiệu Iphone X của bị cáo Dương Thị M1. Đây là chiếc điện thoại bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Thị N, Hoàng Thị L yêu cầu bị cáo trả lại toàn bộ số tiền đã bị chiếm đoạt. Ngày 01/3/2024 bị cáo đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị N số tiền 3.245.000 đồng. Ngày 25/4/2024 bị cáo đã bồi thường cho bị hại Hoàng Thị L số tiền 8.120.000 đồng. Việc bồi thường cho các bị hại đều được lập biên bản. Các bị hại Hoàng Thị L, Nguyễn Thị N đã nhận đủ số tiền và không còn yêu cầu bồi thường nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Từ những nhận định nêu trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ truy tố bị cáo Dương Thị M1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội. Nội dung luận tội và quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Dương Thị M1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thị M1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Dương Thị M1 từ khi tuyên án ngày 14 tháng 6 năm 2024 đến khi bị cáo đi chấp hành án.
- Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, hiệu Iphone X của bị cáo Dương Thị M1.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang ngày 08/5/2024).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Đình Vĩ |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Dương Thị M1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thị M1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
