Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HSPT-CTN

Ngày 13-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và ông Lưu Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2024/TLPT-HS-CTN ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn Q do có kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa.

  1. Bị cáo Trần Văn Q, Sinh ngày 01/01/1988, tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; CCCD số: [...] do Bộ C1 cấp ngày 21/9/2021; Con ông Trần Văn H - sinh năm 1955 và bà Vũ Thị N - sinh năm 1955. Trước đây bị cáo có vợ tên là Đỗ Thị H1 (sinh năm 2000) nhưng hiện nay đã ly hôn. Bị cáo có một người con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 9/7/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh G; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

  2. Bị hại: Nguyễn Thị Hải B, sinh ngày 16/3/2009; Trú tại: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Người đại diện theo pháp luật của cháu B: Bà Bùi Thị L, sinh năm: 1987, địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai và ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1977, địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
  4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu B: Bà Lê Thị Ngọc T – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G; Trú tại: 1 T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Cháu Nguyễn Thị Hải B (sinh ngày 16/3/2009) và cháu Nguyễn Văn V (sinh ngày 06/3/2012) là con chung của chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Văn C. Năm 2014, chị L và anh C ly hôn, hai cháu sống với chị L tại Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Từ năm 2019 cho đến nay, cháu B chuyển về sinh sống với anh C tại tỉnh Quảng Bình. Vào cuối tháng 6/2023, do nghỉ hè nên cháu B vào chơi với mẹ tại Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Trong thời gian này, cháu B có tiếp xúc vài lần với Trần Văn Q là bạn của anh Bùi Văn T1 là cậu ruột cháu B, khi Q đến nhà anh T1 chơi.

    Khoảng 10 giờ ngày 08/7/2023, Trần Văn Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 81B2 – 233.20 đến nhà T1 tại thôn A, xã H để cho chị Hà Thị M là vợ của anh T1 mượn đi công việc. Anh T1 rủ Q ở lại uống rượu, lúc này, có cháu B, cháu V và cháu Bùi Hà N1 con gái T1 ở nhà. Một lúc sau, chị M điều khiển xe mô tô trên về nhà và cùng ngồi ăn cơm. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày anh T1 đi ngủ còn Q điều khiển xe mô tô đến nhà anh Bùi Văn T2 tại Thôn C, xã H để uống bia. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô đi về nhà để nghỉ. Trên đường về, Q nảy sinh ý định dụ dỗ cháu B để giao cấu nên đã điều khiển xe mô tô đến nhà T1, dựng xe ở sân rồi ra ngồi ở ghế đá trước hiên nhà. Lúc này, cháu B đang chơi ở sân trước nhà chị L (bên cạnh nhà T1), thấy Q vẫy tay gọi nên đã rủ cháu V cùng đi sang chỗ Q đang ngồi. Q đưa cho cháu V số tiền 50.000 đồng để mua bánh kẹo nên cháu V cầm tiền đi đến tiệm T4 nhà khoảng 500 mét để mua. Khi V đi, Q chọc ghẹo, dùng tay khoác vai và ôm cháu B, thấy cháu B không phản kháng nên Q nảy sinh ý định giao cấu; Q đứng dậy và nói: “Ra đây với chú một tí” rồi kéo cháu B đi ra bên hông nhà của T1, đẩy cháu B đứng dựa lưng sát vào tường, dùng hai tay ôm người rồi hôn vào môi, mặt, cổ, ngực của cháu B. Sau đó, Q dùng tay trái sờ, nắn vào ngực (bên ngoài áo) rồi luồn tay trái vào trong áo, tiếp tục xoa, nắn hai bên ngực; xoa, nắn âm hộ (bên ngoài quần) rồi luồn tay trái qua lưng quần đùi và quần lót, sờ, nắn và dùng ngón tay trỏ móc vào âm hộ của cháu B; cháu B dùng tay đẩy nhẹ nhưng Q vẫn tiếp tục dùng tay xoa vào âm hộ thì cháu B không đẩy nữa. Lúc này, Q dùng tay trái tụt quần đùi và quần lót của cháu B xuống tới ngang đùi, cháu B giữ quần để kéo lên nhưng Q tiếp tục kéo xuống rồi hôn vào âm hộ của cháu B. Khoảng 02 phút sau, Q kéo quần jean và quần lót của Q xuống một đoạn để lộ dương vật ra rồi dùng tay trái cầm tay của cháu B cọ sát vào dương vật nhưng cháu B rút tay lại; Q đứng ép sát vào người cháu B, đưa dương vật vào âm đạo nhưng không đưa vào được nên cọ sát dương vật lên xuống nhiều lần vào âm hộ của cháu B; Q quay người cháu B úp mặt vào tường rồi tiếp tục đưa dương vật vào âm đạo nhưng không được. Lúc này, thấy bà Bùi Thị Q1 (sinh năm 1967, trú cùng thôn) đi ngang qua nên cháu B nói: “chú ơi có người đi ngang qua kìa”, Q sợ bị phát hiện nên bỏ chạy vào nhà bếp của gia đình T1, còn cháu B chạy ra phía trước nhà thì thấy cháu V đang ngồi khóc ở ghế đá nên hỏi “Em thấy rồi hả?”, V gật đầu rồi tiếp tục khóc. Thấy vậy, cháu B đi vào trong nhà của anh T1 tìm Q rồi cả hai cùng đi dỗ cháu V nhưng cháu V vẫn tiếp tục khóc và chạy về nhà bếp của chị L, Q và cháu B đi theo, Q nói “Thôi nín đi, chị con cũng lớn rồi, tới tuổi dậy thì rồi chị cũng phải có người yêu chứ, nín đi rồi chú cho tiền mua bộ quần áo đá bóng, nhưng đừng nói cho ai biết nhé”. Lúc này, bà Q1 nhìn thấy sự việc nên đi bộ qua nhà bếp của chị L, thấy V khóc nên bà Q1 hỏi “Chị em mày đánh nhau hay sao mà khóc?” thì B nói “Không có chuyện gì đâu bác, nó đòi mua bộ đồ thể thao thôi”, Q thấy vậy nên đi ra khoác vai và xin bà Q1 đừng nói cho ai biết rồi đi qua sân nhà của T1 điều khiển xe mô tô về nhà ngủ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi nghe bà Q1 kể lại sự việc, chị L đã làm đơn trình báo và Trần Văn Q đã bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp.

    * Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 354/KLTDTE ngày 18/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận:

    • 01 vết thay đổi sắc tố da giữa cầu vai trái kích thước (1,5 x 01)cm, màu tím nhạt.
    • Môi lớn - môi bé: Không tổn thương.
    • Âm hộ: Niêm mạc hố tiền đình viêm xung huyết nhẹ.
    • Màng trinh: Dãn rộng, rách cũ vị trí 04 giờ, 07 giờ, không có điểm xuất huyết.
    • Âm đạo: Không tổn thương, có dịch viêm đục, hôi chảy ra từ lỗ âm đạo.
    • Tầng sinh môn – Hậu môn: Không tổn thương.
    • Xét nghiệm HCG: Âm tính.
    • Siêu âm Doppler phụ khoa: Hiện tại không thấy túi thai trong lòng tử cung, nang buồng trứng trái. Cạnh tử cung không thấy khối choán chỗ.
    • Không tìm thấy tinh trùng trong âm đạo.

    Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT không có mục hướng dẫn xếp loại tỉ lệ thương tật tổn hại sức khỏe về xâm hại tình dục.

    * Tại Kết luận số 621/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận: Trên quần đùi, áo lót và quần lót của Nguyễn Thị Hải B không phát hiện xác tinh trùng người. Trên 03 que tăm bông (loại một đầu bông) ghi thu thấm dịch tại âm hộ, âm đạo của Nguyễn Thị Hải B không phát hiện xác tinh trùng người.

    Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự.

  2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

    Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa đã quyết định:

    -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

    -Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    + Áp dụng Khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự.

    + Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2023

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, trách nhiệm về dân sự; quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định pháp luật.

  3. Kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Văn C: Trong thời hạn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Văn C kháng cáo đề nghị xử bị cáo Trần Văn Q về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự.
  4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

    4.1. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, bị cáo thấy hối hận vì hành động của mình.

    4.2. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau: Không chấp nhận kháng cáo chuyển tội danh của bị cáo Trần Văn Q từ tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” sang tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa.

    4.5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị Ngọc T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chuyển tội danh đối với bị cáo Q từ tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” sang tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự. Vì việc xâm hại tình dục của bị cáo đối với bị hại là trái với ý muốn của bị hại. Mặc dù lời khai của người làm chứng bà Q1 và cháu V có nhìn thấy hai tay cháu B buông thỏng xuống nhưng không có nghĩa là cháu B đồng ý cho Q thực hiện hành vi giao cấu. Ngay lời khai ban đầu của cháu B ngày 08/7/2023 đã không đồng ý cho bị cáo thực hiện hành vi giao cấu. Do bị cáo có đe doạ cháu B nên cháu B không dám phản kháng. Ngoài ra, trong lời khai của bị cáo Q cũng thể hiện có một vài lần cháu B không đồng ý cho bị cáo thực hiện hành vi giao cấu.

    4.3. Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Hải B là ông Nguyễn Văn C trình bày: Thống nhất với phần trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị Ngọc T. Đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh của bị cáo Q từ tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” sang tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Văn C kháng cáo đề nghị chuyển tội danh của bị cáo từ tội“Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” sang tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự thấy rằng.

    Tại biên bản lấy lời khai ngày 09-7-2023 (bút lục số 49) bị hại khai:

    “Tôi không đồng ý việc ông Q ôm hôn, sờ soạng hay quan hệ tình dục với tôi. Tôi chỉ nói ông Q không được làm như vậy và có dùng tay đẩy ra nhưng chỉ đẩy nhẹ ra vì ông Q khỏe nên tôi không đẩy được. Ngoài ra tôi không la hét hay phản ứng mạnh gì”

    “Tôi sợ ông Q đánh tôi nên tội không phản kháng gì. Khi bị xâm hại trong phòng ngủ, khi ra khỏi phòng ngủ tôi thấy cậu tôi từ cửa chính bước vào nhưng tôi hoảng sợ nên luôn về nhà, tôi thấy xấu hổ nên không dám nói với ai”

    Tại biên bản lấy lời khai ngày 19-7-2023 (bút lục số 60) bị cáo khai:

    “Khi tôi thực hiện các hành vi để quan hệ tình dục (giao cấu) với bé B thì B không có hành động phản kháng gì, chỉ dùng tay đẩy nhẹ tay tôi ra và dùng tay kéo quần lên khi tôi tụt quần B xuống. Sau đó không có phản ứng gì nữa. Do vậy, trên người tôi và người Bình chắc chắc không có dấu vết gì.

    Thời điểm đỏ T1 (cậu của B) đang ngủ trong nhà, em trai B cũng ở nhà nên nếu B phản kháng, tri hô thì chắc chắn tôi không thể quan hệ tình dục (giao cấu) được với B”

    Tại biên bản lấy lời khai ngày 09-7-2023 (bút lục số 87) người làm chứng là cháu Nguyễn Văn V khai:

    “Khi cháu đi mua bánh về, cháu đi vào sân nhà cậu T1, đứng ở gần cột bên phải căn nhà (hướng từ ngoài nhìn vào) thì thấy chị B đang đứng úp mặt vào tường nhà, cách vị trí cháu đứng khoảng 07-08m, hai tay chị B buông thõng xuống, quần đùi của chị B kéo xuống tới gần đầu gối, chị B vẫn đang mặc áo thun...

    ...Lúc đó chú Q và chị B không biết cháu nhìn thấy sự việc trên. Thời điểm đó cháu thấy 02 tay chị buông thõng xuống, một tay chú Q chống vào tường, một tay để ở vai chị B (không nhớ cụ thể tay nào). Cháu không thấy chị B la hét gì cả.

    Cháu đứng cách chị B và chú Q khoảng 07-08m nên cháu nhìn rõ sự việc trên. Ngoài ra còn có bà Q1 đi ngang qua, bà Q1 dừng xe lại vào nhà cậu T1 nên biết việc chú Q sàm sỡ chị B”

    Tại biên bản lấy lời khai ngày 20-9-2023 (bút lục số 93) người làm chứng là bà bà Bùi Thị Q1 trình bày:

    “Thời điểm này Q đang ôm cháu B từ phía sau lưng, hai tay cầm vào vị trí phía dưới bụng của cháu B, bụng Q áp sát vào mông cháu B, hai tay cháu B để buông thỏng, cháu B và Q mặt đang quay lưng về hàng rào nhà ông T3, tôi nhìn thấy Q và cháu B vẫn đang mặc quần áo tại vị trí tôi nhìn (Quyết mặc quần Jean màu xanh nhạt, áo thun ngắn tay màu đen, cháu B mặc quần dài, áo dây bằng vải màu vàng nhạt). Tôi thấy vậy nên đứng ngoài đường cách vị trí Q và B khoảng 40 mét quan sát. Tôi đứng xem khoảng 03-05 phút, thấy Q và bình vẫn giữ nguyên tư thế như vậy....”

    Tại kết luận giám định số: 354/KLTDTE-TTPY ngày 18 -7-2023 đã kết luận “Đầu, mặt, miệng, hầu họng, cổ, bụng, mông, tay chân: Không dấu vết thương tích”

    Ngoài ra, theo lời khai của người làm chứng là anh Lương Văn H2 thì anh và bị cáo có lúc chọc ghẹo cháu B bằng lời nói thì cháu B cũng không nói gì, còn chọc ghẹo lại anh và bị cáo. Bị hại khi biết cháu V, bà Q1 phát hiện sự việc bị hại cũng không tố cáo Q mà khi bà Q1 hỏi bị hại cũng không nói rõ sự thật mà chỉ nói “Không có chuyện gì đâu bác, nó đòi mua bộ đồ thể thao thôi”.

    Bị hại khai rằng bị cáo đe dọa bị hại nếu hét lên sẽ giết bị hại. Tuy nhiên, lời khai này của bị hại không được bị cáo thừa nhận, không có tài liệu, chứng cứ cũng như người làm chứng để chứng minh lời khai của bị hại là đúng sự thật. Hơn nữa, khi thực hiện hành vi bị cáo không mang theo hung khí có thể sẵn sàng đe dọa đàn áp tinh thần của bị hại khi bị hại hét lên. Ngoài ra, tại thời điểm xảy ra vụ việc anh T1, chị M là cậu và mợ của bị hại đang ở trong nhà, thời điểm là buổi trưa, địa điểm xảy ra vụ việc là bên hông nhà của cậu bị hại chỉ cần bị cáo la lên thì sẽ có người đến giúp đỡ bị hại. Do đó, lời khai của bị hại cho rằng bị cáo đe dọa bị hại là không có căn cứ.

    Để làm rõ hơn tình tiết của vụ án, ngày 16-8-2024 Tòa án đã tạm ngừng phiên tòa để triệu tập bị hại là cháu B, người làm chứng là cháu V, bà Q1, anh T1 và chị M để tiến hành đối chất. Xét, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho bị hại và người làm chứng tham gia phiên tòa ngày 13-9-2024 nhưng đến ngày xét xử bị hại và người làm chứng là cháu V có đơn xin xét xử vắng mặt còn bà Q1, anh T1 và chị M1 vắng mặt không tham gia phiên tòa. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào lời khai, kết luận giám định có tại hồ sơ vụ án để xác định bị cáo Q không dùng vũ lực cũng không đe dọa dùng vũ lực với bị hại và bị hại cũng không phản kháng lại mặc dù không lâm vào tình trạng không thể chống cự được, không bị hạn chế hay mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi. Do đó, không đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” như kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo.

    Từ những lời khai, tài liệu, chứng cứ có tại hồ sư có thể xác định: Trần Văn Q là bạn của Bùi Văn T1 (cậu ruột của bị hại) nên hay qua nhà của T1 chơi. Tại đây Q gặp cháu B, thấy cháu B đang trong độ tuổi dậy thì cơ thể phát triển đầy đặn nên Q thường hay chọc ghẹo cháu B. Ngày 8-7-2023, sau khi uống rượu bị cáo đã nảy sinh ý muốn quan hệ tình dục với cháu B. Bị cáo lợi dụng lúc T1 đang ngủ trong phòng, ngoài nhà vắng người nên đã có hành vi sờ, nắn...vào những bộ phận nhạy cảm, dùng ngón tay trỏ móc vào bộ phận sinh dục và nhiều lần đưa dương vật vào bộ phận sinh dục của cháu B nhằm mục đích giao cấu nhưng chưa xâm nhập được vào bên trong. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, cháu B mới 14 năm 3 tháng 22 ngày tuổi.

    Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn Q về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn C.

  2. Do bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo về phần hình phạt nên Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt đã áp dụng cho bị cáo.
  3. Vụ án bị khởi tố theo yêu cầu của bị hại nên người đại diện theo pháp luật của bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Điều luật áp dụng
    • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn Q.
    • - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Không chấp nhận kháng cáo đề nghị xét xử bị cáo Trần Văn Q về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị Hải B là ông Nguyễn Văn C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.
    • -Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2023.
  3. Về án phí:

    Người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị Hải B là ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND huyện Đăk Đoa;
  • - VKSND huyện Đăk Đoa;
  • - Chi cục THADS huyện Đăk Đoa
  • - Công an huyện Đăk Đoa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu VT, TGĐ&NCTN, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HSPT-CTN ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 08/2024/HSPT-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị hại kháng cáo chuyển tội danh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger