Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÔNG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/9/2024.

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Lợi và ông Phạm Xuân Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 454/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 489/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1978; Nơi thường trú: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai khai tại Toà án nhân dân huyện Nam Đông, nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Trần Văn N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được UBND thị trấn T, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/3/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng hay cãi vả, bất đồng quan điểm, hiện không còn sống chung với nhau từ tháng 5 năm 2024 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị L xin ly hôn với anh N.

[2]. Về con chung: Chị L và anh N đều xác nhận vợ chồng có 01 người con chung là cháu Trần Văn S, sinh ngày 12/5/2011. Hiện nay cháu đang được chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu S đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh N cấp dưỡng.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 01 tháng 7 năm 2024, anh Trần Văn N không đồng ý ly hôn với chị L vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa trầm trọng, có thể giải quyết được nên anh N cần có thời gian để thuyết phục và hàn gắn với chị L. Anh N không đồng ý ly hôn nên không có ý kiến về vấn đề con chung, về tài sản chung và nợ chung.

Khi Toà án mời hoà giải lần thứ hai thì anh N lại không chịu hợp tác và không tham gia phiên hoà giải. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh, thực hiện các thủ tục đầy đủ theo quy định của pháp luật. Bị đơn được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho chị Phan Thị L được ly hôn với anh Trần Văn N.

Về con chung: Giao cháu Trần Văn S, sinh ngày 12/5/2011 cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi, anh N không cấp dưỡng nuôi con; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Trần Văn N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được UBND thị trấn T, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày vào ngày 03/3/2010 nên hôn nhân của họ là hợp pháp. Theo kết quả xác minh do Tòa án tiến hành thu thập thì hiện nay chị Phan Thị L và anh Trần Văn N không còn chung sống với nhau nữa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án thông báo cho bị đơn đến hòa giải lần hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ bị đơn thiếu thiện chí hòa giải để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng và hàn gắn quan hệ hôn nhân, thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L xin ly hôn là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị L.

[3]. Về con chung: Chị L yêu cầu tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Văn S, sinh ngày 12/5/2011 cho đến lúc cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi, chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy anh N không đến tham gia hòa giải lần hai và tham gia phiên tòa theo thông báo của Tòa án, cháu S có nguyện vọng được ở với mẹ, chị L đang trực tiếp chăm sóc nên tiếp tục giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng và sự phát triển của cháu. Vì vậy, yêu cầu của chị L về vấn đề nuôi con là phù hợp, cần được chấp nhận.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phan Thị L.

[1]. Về hôn nhân: Chị Phan Thị L được ly hôn anh Trần Văn N kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

[2]. Về con chung: Giao cháu Trần Văn S, sinh ngày 12/05/2011 cho chị Phan Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh N không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002293 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đông.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành bản án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đông;
  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đông;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Thuận An; huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger