|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/DS-PT
Ngày 11-01-2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu di dời tài sản và hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2023/TLPT-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 218/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 166/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Quang T, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Văn T1, sinh 1963 - Đoàn Luật sư tỉnh B.
Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Võ Văn T1, thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Trần Cỏng P, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tham gia tố tụng: Ông Trần Văn D, sinh năm 1986 (theo Giấy ủy quyền ngày 22/11/2022)
Địa chỉ: C N, phường X, TP P, tỉnh Bình Thuận
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Số 1 đường N, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo pháp luật ông Mai Văn V - Chủ tịch UBND huyện B.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Duy H – Chức vụ: Trưởng Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện B (theo Công văn số 27/UBND-NC ngày 05/01/2024 về việc đề nghị xét xử vắng mặt và ủy quyền tham gia tố tụng).
- Bà Nguyễn Thị Nguyên N, sinh năm 1964
- Anh Trịnh Quang T2, sinh năm 1992
- Anh Trịnh Quang T3, sinh năm 1999
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Nguyên N, anh Trịnh Quang T2, anh Trịnh Quang T3 tham gia tố tụng: Ông Trịnh Quang T, sinh năm 1964 (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 18/12/2023).
- Bà Hoàng Thị K, sinh 1991
Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Công P
Tại phiên tòa có mặt ông Trịnh Quang T, ông Võ Văn T1, ông Trần Duy H; ông Trần Văn D và bà Hoàng Thị K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn (ông Trịnh Quang T) trình bày:
Ngày 07/8/2001, ông Trịnh Quang T được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153, tờ bản đồ số 15, diện tích 22.352m², gồm: Thửa số 35, tờ bản đồ số 15, diện tích 1792m² đất màu; thửa số 38, tờ bản đồ số 15, diện tích 6928m² đất vườn; thửa số 39, diện tích 13.623m² đất màu. Sát ranh thửa đất số 38 của ông Trịnh Quang T có mảnh đất trũng trâu nằm và sau này ông Trần Cỏng P san bằng làm ruộng diện tích khoảng 600m². Đến ngày 05/8/2018, ông Trịnh Quang T phát hiện ông Trần Cỏng P tự ý lấn chiếm đất chiều rộng 10m, dài 50m và trồng trụ định xây dựng nhà tạm trên đất. Ông Trịnh Quang T có báo chính quyền địa phương lập biên bản ngày 07/8/2018 và đề nghị ông Trần Cỏng P tháo dỡ trụ và giao trả lại đất nhưng ông Trần Cỏng P không chấp hành mà còn lấn chiếm thêm 16,6m. Ông Trịnh Quang T tiếp tục làm đơn yêu cầu UBND xã S giải quyết và hòa giải nhưng không thành.
Ông Trịnh Quang T yêu cầu tòa giải quyết buộc ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải trả lại cho ông Trinh Quang T4 1.552,3m² đất và buộc ông Trần Công P và bà Hoàng Thị K phải di dời 03 cây bạch đàn, 40 cây xoài, 21 trụ bê tông, 01 chái
3
tạm 12,92 m² (3,4m x 3,8m) theo như biên bản xem xét thẩm định và định giá tài sản lập ngày 14/5/2021 nằm trong diện tích 1.552,3m² đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 mà UBND huyện B cấp ngày 07/8/2001 cho ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích đất là 22.352m², để trả lại mặt bằng cho ông Trịnh Quang T sử dụng. Riêng việc ông Trần Cỏng P có hành vi gây thiệt hại tài sản, công an huyện B và công an tỉnh B đang giải quyết theo quy định của pháp luật nên ông không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Cỏng P (ông Trần Văn D) và những người làm chứng trình bày:
Đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ ông Trần Cỏng P khai hoang từ trước năm 1976 giáp ranh với đất ông Trịnh Quang T. Đến năm 1998, cha, mẹ ông Trần Cỏng P giao lại cho ông canh tác cho đến nay. Năm 2001, ông Trịnh Quang T được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 ngày 07/8/2001. Hiện nay ông Trịnh Quang T cho rằng ông Trần Công P lấn chiếm đất của ông Trịnh Quang T với diện tích 830m² nên ông Trần Cỏng P không đồng ý trả cho ông Trịnh Quang T.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Quang T buộc bị đơn phải trả lại 1.552,3m² đất, không đồng ý tháo dỡ, di dời 03 cây bạch đàn, 40 cây xoài, 21 trụ bê tông, 01 chái tạm 12,92 m² (3,4m x 3,8m) theo như biên bản xem xét thẩm định và định giá tài sản lập ngày 14/5/2021. Vì đất này là của cha mẹ bị đơn để lại cho bị đơn. Bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 do UBND huyện B cấp ngày 07/8/2001 cho ông Trịnh Quang T.
Ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 mà UBND huyện B cấp cho nguyên đơn, gia đình nguyên đơn cũng không có chứng cứ nào để chứng minh quyền sử dụng đất của mình đối với diện tích đất tranh chấp này. Nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cấp không đúng quy định của pháp luật. Công văn 3148/UBND-NC ngày 19/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện B cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 cấp cho ông Trịnh Quang T là đúng trình tự, thủ tục, nguồn gốc và đối tượng sử dụng đất nhưng các tài liệu, chứng cứ trong vụ án thể hiện ngược lại, cụ thể về nguồn gốc đất, về thời điểm sử dụng đất.
Từ những phân tích trên, chứng tỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 mà UBND huyện B cấp cho ông Trịnh Quang T là vi phạm về trình tự, thủ tục, đối tượng sử dụng đất cũng như mục đích sử dụng đất. Đáng lẽ khi phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp sai thì UBND huyện B phải căn cứ vào Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp lại cho đúng quy định. Tuy nhiên, UBND huyện B lại tiếp tục ra văn bản để khẳng định tính hợp pháp của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mình đã cấp là không thỏa đáng. Từ những lý do đã nêu, thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ. Để bảo vệ quyền lợi cho gia đình ông Trần Công P, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 do UBND huyện B cấp ngày 07/8/2001 cho hộ ông Trịnh Quang T.
4
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện B (do ông Phùng Thế Văn đại d) trình bày:
Việc UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 ngày 07/8/2001, tờ bản đồ số 15 cho ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích 22.352m² đã được UBND huyện trả lời tại Văn bản số 3148/UBND-NC ngày 19/11/2021 và Văn bản số 2579/UBND-NC ngày 23/09/2022. Do đó, việc ông Trần Cỏng P đề nghị Tòa án xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 mà UBND huyện B cấp cho hộ ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích đất 22.352m² là không có cơ sở để chấp nhận.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị K trình bày:
Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Quang T buộc bị đơn phải trả lại 1.552,3m² đất, không đồng ý tháo dỡ, di dời 03 cây bạch đàn, 40 cây xoài, 21 trụ bê tông, 01 chái tạm 12,92 m² (3,4m x 3,8m) trong diện tích 1.552,3m² đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 mà UBND huyện B cấp cho ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích đất là 22.352m², để trả lại mặt bằng cho ông Trịnh Quang T sử dụng theo như biên bản xem xét thẩm định và định giá tài sản lập ngày 14/5/2021 vì đất này là của cha mẹ bị đơn để lại cho bị đơn.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 14/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình thì diện tích đất mà các bên tranh chấp là 1.552,3m². Đất tranh chấp tọa lạc tại xã S, huyện B, đất tứ cận: Phía Đông: Giáp đất ông Trần Cỏng P; Phía Tây: Giáp đất ông Trịnh Quang T; Phía Nam: Giáp đất ông Trịnh Quang T; Phía Bắc: Giáp đường đất.
(Được giới hạn bởi các mốc tọa độ 4, 12, 11, 6 theo bản đồ vị trí khu đất ngày 20/01/2021 của Chi nhánh văn phòng Đ cung cấp).
Giá trị quyền sử dụng của diện tích đất 1.552,3m² là 112.287.173đ (1.552,3m² x 52.800 đ/m² x 1,37).
Trên đất tranh chấp có 03 cây bạch đàn, 40 cây xoài, 21 trụ bê tông, 01 chái tạm 12,92 m² (3,4m x 3,8m) của ông Trần Cỏng P.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c, khoản 1, Điều 39; Khoản 1, Điều 147, Điều 165, Điều 166; Điều 227; Điều 229; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166; Khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai 2013; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Quang T.
Buộc ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải trả lại cho hộ ông Trịnh Quang T diện tích 1.552,3m² đất, tọa lạc tại thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận có tứ
5
cận: Phía Đông: Giáp đất ông Trần Cỏng P; Phía Tây: Giáp đất ông Trịnh Quang T; Phía Nam: Giáp đất ông Trịnh Quang T; Phía Bắc: Giáp đường đất.
Buộc ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K tháo dỡ, di dời 03 cây bạch đàn, 40 cây xoài, 21 trụ bê tông, 01 chái tạm diện tích 12,92 m² (3,4m x 3,8m) ra khỏi diện tích 1.552,3m² đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng số R 261153 do UBND huyện B cấp ngày 07/8/2001 đứng tên Trịnh Quang T.
(Diện tích 1.552,3m² đất được giới hạn bởi các mốc tọa độ 4, 12, 11, 6 theo Bản đồ vị trí khu đất ngày 20/01/2021 của Chi nhánh văn phòng Đ, đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng số R 261153 do UBND huyện B cấp ngày 07/8/2001 đứng tên Trịnh Quang T - Có bản vẽ đính kèm).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 8 năm 2023, bị đơn ông Trần Cỏng P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cho rằng bản án sơ thẩm chưa xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn là người kháng cáo vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 08/01/2024.
- Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Ủy ban nhân dân huyện B giữ nguyên ý kiến tại Tòa án cấp sơ thẩm.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra tại phiên tòa xét thấy bản án sơ thẩm tuyên có căn cứ, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, Luật sư, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn ông Trần Cỏng P kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
6
[2] Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải trả lại đất, tháo dỡ, di dời tài sản trên đất trong diện tích đất 1.552,3m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng số R261153 mà UBND huyện B cấp cho hộ ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích đất 22.352m², để trả lại mặt bằng cho ông Trịnh Quang T sử dụng. Xét thấy yêu cầu này có liên quan đến đất tranh chấp và không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Để giải quyết dứt điểm vụ án và đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận xem xét giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc vợ chồng ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải trả lại diện tích đất 1.552,3m² và tháo dỡ, di dời 03 cây bạch đàn, 40 cây xoài, 21 trụ bê tông và 01 chái tạm có diện tích 12,92 m² (3,4m x 3,8m) trong diện tích đất 1.552,3m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng số R 261153 do UBND huyện B cấp cho ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích đất 22.352m², để trả lại mặt bằng cho ông Trịnh Quang T sử dụng. Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập toàn bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trịnh Quang T bao gồm: Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất; Quyết định số 913/QĐ-UB ngày 07/8/2001 của UBND huyện B về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Danh sách hộ đủ điều kiện cấp quyền sử dụng đất tại thôn B xã S; Tờ trình số 85/TT-ĐC ngày 10/7/2001 của Phòng địa chính huyện B về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết các trường hợp chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Biên bản kiểm tra hồ sơ xét duyệt đăng ký đất số 84/BB ngày 10/7/2001 của Phòng địa chính; Biên bản ghi chép chi tiết quá trình xét duyệt của hội đồng đăng ký đất thôn B; Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký đất; Biên bản niêm yết công khai số 34/TB-UB ngày 23/10/2000 và Biên bản kết thúc việc niêm yết công khai số 07/BB-UB ngày 10/11/2000.
[6] Như vậy, sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Trịnh Quang T; các tài liệu, chứng cứ khác và lời khai của ông T có cơ sở xác định nguồn gốc đất tranh chấp trước năm 1990 là của cha mẹ ông T, từ năm 1990 là do ông Trịnh Quang T phục hóa, khai hoang thêm và sử dụng ổn định liên tục, không có ai tranh chấp, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số R261153 cho ông Trịnh Quang T là đúng với quy định của pháp luật đất đai.
[7] Đồng thời UBND huyện B đã có Công văn số 3148/UBND-NC ngày 19/11/2021, Công văn số 2579/UBND-NC ngày 23/9/2022, Công văn số 51/UBND-NC ngày 10/01/2023 và Công văn 1516/UBND-NC ngày 23/6/2023
7
cung cấp thông tin cho Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.Theo nội dung các công văn cho biết: UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R261153 ngày 07/8/2001, diện tích 22.352m² cho ông Trịnh Quang T là đúng trình tự, thủ tục, nguồn gốc và đối tượng sử dụng đất. Diện tích 1.552,3m² đất đang tranh chấp giữa ông Trịnh Quang T và ông Trần Cỏng P nằm trong hai thửa đất số 38 và số 39 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R261153 do UBND huyện B cấp ngày 07/8/2001 với diện tích 22.352m², cấp cho hộ ông Trịnh Quang T (gồm Trịnh Quang T, Nguyễn Thị Uyên N1, Trịnh Quang T2, Trịnh Quang T3), các thành viên trong hộ ông Trịnh Quang T được quyền quản lý và sử dụng diện tích đất 22.352m².
[8] Tại cấp sơ thẩm, bị đơn khai rằng diện tích đất 1.552,3m² ông Trịnh Quang T đang tranh chấp và buộc bị đơn phải trả lại vì diện tích đất này nguyên đơn đã được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R261153, ngày 07/8/2001 cho ông Trịnh Quang T là không đúng. Vì đất này có nguồn gốc từ cha mẹ ông Trần Công P khai hoang từ trước năm 1976 giáp ranh với đất ông Trịnh Quang T. Đến năm 1998, cha mẹ ông Trần Cỏng P giao lại cho ông Trần Cỏng P canh tác cho đến nay, bị đơn đã có đất này từ trước khi nguyên đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R261153 nêu trên. Xét lời khai của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi bị đơn cũng như những người làm chứng của bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh diện tích đất 1.552,3m² đang tranh chấp là do gia đình bị đơn khai hoang, sử dụng ổn định theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013, không có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất cũng không kê khai tại chính quyền địa phương, không được quy chủ sử dụng đất.
[9] Hơn nữa, diện tích đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn nên quyền lợi của bị đơn không bị xâm phạm. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì không đủ căn cứ xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng số R 261153 mà UBND huyện B cấp cho ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích đất 22.352m² là trái pháp luật. Vì vậy, yêu cầu của bị đơn hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 mà UBND huyện B cấp cho ông Trịnh Quang T được quyền sử dụng diện tích đất 22.352m² là không có cơ sở để xem xét.
[10] Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng quy định của pháp luật.
[12] Từ nhận định trên, xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là phù hợp nên được chấp nhận. Bị đơn kháng cáo mà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nào mới so với cấp sơ thẩm nên không có căn cứ để hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Cỏng P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1
8
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Cỏng P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c, khoản 1, Điều 39; Khoản 1, Điều 147; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 229; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166; Khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai 2013; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Quang T.
Buộc ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải trả lại cho hộ ông Trịnh Quang T diện tích 1.552,3m² đất, tọa lạc tại thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận có tứ cận: Phía Đông: Giáp đất ông Trần Cỏng P; Phía Tây: Giáp đất ông Trịnh Quang T; Phía Nam: Giáp đất ông Trịnh Quang T; Phía Bắc: Giáp đường đất.
Buộc ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải tháo dỡ, di dời 03 cây bạch đàn, 40 cây xoài, 21 trụ bê tông và 01 chái tạm diện tích 12,92 m² (3,4m x 3,8m) ra khỏi diện tích 1.552,3m² đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R261153 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 07/8/2001 đứng tên Trịnh Quang T.
(Diện tích 1.552,3m² đất được giới hạn bởi các mốc tọa độ 4, 12, 11, 6 theo Bản đồ vị trí khu đất ngày 20/01/2021 của Chi nhánh văn phòng Đ, đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 261153 do UBND huyện B cấp ngày 07/8/2001 đứng tên Trịnh Quang T- Có bản vẽ đính kèm).
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Trịnh Quang T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông Trịnh Quang T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0029352 ngày 16/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.
[3] Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Cỏng P và bà Hoàng Thị K phải hoàn trả cho ông Trịnh Quang T số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
9
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Ông Trần Công P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001279 ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình. Ông Trần Cỏng P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (11/01/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phong Lan |
Bản án số 08/2024/DS-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 08/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Quang T kiện Trần Cỏng P về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
