|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/HNGĐ-PT Ngày: 09/5/2024 V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn; Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đòi lại tài sản là nhà, đất.” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
Các Thẩm phán: Ông Hàng Lâm Viên và bà Ngô Thị Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Trung – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: Bà Huỳnh Thị Hồng Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tạị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 05/2024/TLPT-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn; Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đòi lại tài sản là nhà, đất”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1978 ( có mặt); Bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1989 (vắng mặt); (Theo giấy uỷ quyền ngày 05/01/2024).
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận .
Bị đơn: Ông Võ Ngọc A, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1925 ( có mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn N, sinh năm 1957 (Theo giấy ủy quyền ngày 05/6/2023), ( có mặt).
Địa chỉ: Khu phố C, phường B, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Ngọc A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Đ kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Bà với ông Võ Ngọc A tự tìm hiểu, yêu thương và tiến đến chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30, ngày 10/4/2007. Sau khi cưới vợ chồng bà sống tại căn nhà xây cấp 4 có 01 gác lửng nhỏ đã cũ của gia đình ông A. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra cãi vã liên quan đến căn nhà và đất trên; đến năm 2020 vợ chồng bà quay về hàn gắn lại thì mẹ chồng bà là bà Phạm Thị Đ làm thủ tục tặng cho nhà và đất đứng tên vợ chồng bà. Vợ chồng bà chung sống bình thường đến năm 2021 tiếp tục xảy ra mâu thuẫn vì ông A yêu cầu bà chuyển tên trả lại nhà và đất cho mẹ chồng bà nhưng bà không đồng ý, từ đó vợ chồng bà vẫn sống chung tại căn nhà trên nhưng không quan tâm nhau, mạnh ai nấy lo. Vì vậy, bà xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Võ Ngọc A.
+ Về con chung: Vợ chồng bà có 03 người con chung tên Võ Thị Minh C, sinh năm 2008; Võ Quốc H, sinh năm 2011 và Võ Quốc K, sinh năm 2017. Hiện các con đang sống cùng với vợ chồng bà. Bà yêu cầu được nuôi cả 03 người con và yêu cầu ông Võ Ngọc A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.300.000 đồng/ 01 cháu.
+ Về tài sản chung: Vợ chồng bà có tài sản chung là thửa đất số 562 tờ bản đồ số 28a có diện tích 102m² và 01 căn nhà lầu gắn liền trên đất toạ lạc tại thôn L, xã P, huyện T, hiện nay vợ chồng bà và các con đang ở. Về nguồn gốc thửa đất, trước đây trên đất có 01 căn nhà xây cấp 4 có 01 gác lửng đã cũ là của mẹ chồng bà (Phạm Thị Đ). Tuy nhiên sau khi cưới, vợ chồng bà sống trong nhà cũ trên đến năm 2013 đập bỏ căn nhà cũ và xây dựng căn nhà lầu như hiện nay. Lúc xây nhà, vợ chồng bà bà đóng góp là 350.000.000 đồng, còn lại do các chị chồng cho. Vợ chồng bà sống trên căn nhà và đất trên đến năm 2014 thì đăng ký làm sổ đỏ đứng tên vợ chồng bà. Năm 2019 gia đình chồng yêu cầu vợ chồng bà sang tên sang sổ đỏ cho mẹ chồng để làm hợp đồng tặng cho vợ chồng cho rõ ràng và lấy tiếng nên vợ chồng bà đồng ý. Sau khi vợ chồng bà sang tên sổ cho mẹ chồng thì mẹ chồng làm thủ tục tặng cho lại cho vợ chồng bà như đã hứa nên đến nay vợ chồng bà đã được cấp giấy chứng nhận nhà và đất trên. Nay vợ chồng ly hôn, bà yêu cầu Toà án chia tài sản chung là căn nhà và đất nêu trên, bà yêu cầu được nhận hiện vật là nhà đất, bà đồng ý hoàn lại giá trị bằng tiền đối với phần chênh lệch cho ông A.
+ Về nợ chung: Bà xác nhận vợ chồng bà không có nợ chung.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Kim T, bà T2, bà T1 trình bày: Thống nhất với nội dung trình bày cũng như yêu cầu của bà T về phần tài sản nên không có ý kiến gì cần bổ sung thêm.
Tại các biên bản lấy lời khai, quá trình tố tụng và tại phiên toà, bị đơn ông Võ Ngọc A trình bày:
Ông với bà Nguyễn Thị Kim T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và tiến đến chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T. Vợ chồng chung sống rất hạnh phúc đến năm 2020 do vợ chồng làm ăn thất bại nên thường xảy ra cãi vã thì bà T bỏ nhà đi khoảng 1 tháng quay lại yêu cầu mẹ ông sang tên sổ đỏ đất để vợ chồng hàn gắn, được 3 tháng thì tiếp tục mâu thuẫn cho đến nay, mặc dù vợ chồng sống cùng nhà nhưng rất lạnh nhạt, không quan tâm nhau, tự ai nấy lo. Nay ông xét thấy vợ chồng không còn tình cảm nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.
+ Về con chung: Vợ chồng chung sống sinh được 03 người con tên Võ Thị Minh C, sinh năm 2008, Võ Quốc H, sinh năm 2011 và Võ Quốc K, sinh năm 2017. Các con hiện vẫn đang sống chung cùng với vợ chồng ông. Ông yêu cầu được nuôi 03 người con và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Vợ chồng ông không tạo lập được tài sản gì, chỉ có tài sản là nhà, đất mà mẹ ông là bà Phạm Thị Đ cho vợ chồng ông đứng tên giấy chứng nhận nên ông không đồng ý chia nhà và đất như bà T yêu cầu.
+ Về nợ chung: Không có.
Tại các biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Phạm Thị Đ, quá trình tố tụng và tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của bà Đ trình bày:
Bà Đ khẳng định diện tích 102m² thuộc thửa đất số 562, tờ bản đồ địa chính số 28a tại thôn L, xã P, huyện T có nguồn gốc do bà nhận chuyển nhượng của con trai bà tên Võ Minh H1 vào năm 2003, lúc đó đất chưa có sổ nhưng trên đất đã có 01 căn nhà cũ. Đến năm 2007 khi bà T lấy ông A và về sống tại căn nhà này cùng bà, đến năm 2013 bà đập bỏ nhà cũ và xây lại căn nhà xây 01 lầu hiện nay vợ chồng bà T, ông A đang ở. Do vợ chồng A – T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn thì con trai bà (Ngọc A) năn nỉ sang tên cho vợ chồng đứng tên sổ đỏ để vợ chồng quay về chung sống hạnh phúc; đồng thời gia đình bà T đến gây áp lực đòi dẫn con gái về nên bà vì thương con, cháu mới đồng ý sang tên cho vợ chồng đứng tên sổ, mục đích mong muốn vợ chồng A – T sống hạnh phúc. Bà xác nhận có làm hợp đồng tặng cho đất. Tuy nhiên trong lúc vợ chồng có mâu thuẫn và phía cô T gây áp lực, bà vì thương con cháu nên chấp nhận làm hợp đồng tặng cho nhưng chỉ cho đứng tên để vợ chồng sống hạnh phúc, nuôi dạy con cái chứ không phải cho hẳn. Bà Đ xác định đây là việc tặng cho có điều kiện nhưng ngược lại bà T không tôn trọng, không thương yêu gia đình nên sau khi sang tên được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thì bà T đã làm đơn yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung. Nay bà Đ yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng tặng cho giữa bà và vợ chồng Võ Ngọc A – Nguyễn Thị Kim T số chứng thực 84, quyền số 01/2020-SCT/HĐ,GD ngày 08/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã P; Huỷ giấy chứng nhận QSD đất số bìa CX 569641, số vào sổ cấp GCN CS 01233 do Sở T4 cấp ngày 15/01/2021 mang tên ông Võ Ngọc A, bà Nguyễn Thị Kim T, đồng thời yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng A – T trả lại nhà và đất trên cho bà.
Tại bản án sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận quyết định:
Căn cứ: Các Điều 33, 55, 57, 59, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 459, Điều 500, Điều 502 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 26, khoản 1, 5 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 165, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Võ Ngọc A.
2. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận về việc nuôi con chung của ông Võ Ngọc A, bà Nguyễn Thị Kim T. Giao 03 con chung tên Võ Thị Minh C, sinh ngày 09/01/2008, Võ Quốc H, sinh ngày 22/5/2011 và Võ Quốc K, sinh ngày 02/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng;
- Buộc ông Võ Ngọc A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà T mỗi tháng là 1.300.000đ/con, tổng 03 con/tháng là 3.900.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2024 đến khi các con chung đủ 18 tuổi, lao động được.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T về chia tài sản chung vợ chồng.
- Phân chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị Kim T, ông Võ Ngọc A là quyền sử dụng đất có diện tích 103,0m² và tài sản gắn liền trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 569641, số vào sổ cấp GCN CS 01233 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 15/01/2021 và theo Trích lục bản đồ địa chính số 1287/2023 ngày 06/9/2023 của Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện T trị giá toàn bộ tài sản 1.287.278.800 đồng, như sau:
+ Giao cho bà Nguyễn Thị Kim T được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích 103,0m² đất (loại đất ONT), tương ứng các điểm mốc (1,2,3,4,5,6), đất thuộc thửa đất số 562 và một phần thửa đất số 563 tờ bản đồ số 28a toạ lạc tại thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 569641, số vào sổ cấp GCN CS 01233 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 15/01/2021 và theo Trích lục bản đồ địa chính số 1287/2023 ngày 06/9/2023 của Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện T cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 Căn nhà 2 tầng, khung bê tông cốt thép, mái lợp ngói, nền lát gạch Ceramic, trần thạch cao, khung nhôm chìm, tường sơn nước có bả matic, có một phần tường ốp gạch men; diện tích tầng trệt 21,2m x 4,8m = 101,28m², diện tích tầng lầu 22,2m x 4,8m = 106,56m², tổng diện tích căn nhà là 207,84m².
+ Bà Nguyễn Thị Kim T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Võ Ngọc A ½ giá trị căn nhà và đất tương ứng với số tiền 643.618.900 đồng.
Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ, bà Nguyễn Thị Kim T tự liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chỉnh lý, đăng ký sang tên quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
4. Bác toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Đ về việc yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản là nhà, đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí định giá tài sản, lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền, nghĩa vụ của các bên thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29/01/2024, Bị đơn ông Võ Ngọc A và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Đ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
Nội dung kháng cáo của ông A: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho ngày 08/10/2020 vô hiệu và bác yêu cầu chia tài sản chung của bà T; Nội dung kháng cáo của bà Đ: Vô hiệu hợp đồng tặng cho ngày 08/10/2020, trả lại tài sản là nhà đất cho bà.
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bà Đ không rút đơn yêu cầu độc lập; Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không rút hay thay đổi, bổ sung nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 08/10/2020 được chứng thực đã có hiệu lực pháp luật, do đó yêu cầu của bà Đ về việc hủy hợp đồng tặng cho là không có cơ sở. Tuy nhiên, trong hợp đồng chỉ xác lập tặng cho quyền sử dụng đất mà không thể hiện tặng cho căn nhà. Tại phiên tòa bà T xác định không tranh chấp căn nhà. Quá trình xây dựng căn nhà bà T xác định có bỏ vào số tiền 350.000.000 đồng nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh nhưng được bà Đ thừa nhận số tiền 300.000.000 đồng. Do đó, xác định tài sản chung giữa vợ chồng ông A, bà T là quyền sử dụng đất và số tiền 300.000.000 đồng. Bà Đ hiện không có nhà ở nào khác, áp dụng Án lệ 67/2023/AL giao nhà đất cho bà Đ và bà Đ hoàn trả tiền và giá trị quyền sử dụng đất cho bà T, ông A.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ông A, bà Đ; Sửa bản án sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của Bị đơn ông Võ Ngọc A, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Phạm Thị Đ nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ, ông A đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu của các đương sự. Tòa án sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết đầy đủ các mối quan hệ pháp luật tranh chấp đúng thẩm quyền, thủ tục theo quy định khoản 2,3 Điều 26; khoản 1,5 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về sự tham gia tố tụng của đương sự: Căn cứ trích lục số 1287/2023 ngày 06/9/2023 của Văn phòng Đ1 – chi nhánh huyện T, thể hiện thửa đất có 1m² lấn qua thửa đất 563, chủ sử dụng là vợ chồng ông Trương Anh L, bà Nguyễn Thị Xuân T3. Quá trình tố tụng, ông L, bà T3 không tranh chấp và không yêu cầu quyền lợi, đề nghị Toà án công nhận theo diện tích đất thực tế mà các bên đang sử dụng. Vì vậy, không cần thiết đưa ông L, bà T3 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điều 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự như bản án sơ thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Phạm Thị Đ, ông Võ Ngọc A, nhận thấy:
[2.1] Theo biên bản thẩm định, định giá lập ngày 27/5/2023 thể hiện: Tài sản tranh chấp là nhà, đất thuộc thửa số 562, tờ bản đồ số 28a, xã P đo đạc thực tế diện tích 103m² trị giá 318.808.999 đồng. Căn nhà 2 tầng, khung bê tông cốt thép, mái lợp ngói, nền lát gạch Ceramic, trần thạch cao, khung nhôm chìm, tường sơn nước, có một phần tường ốp gạch men; diện tích tầng trệt 21,2m x 4,8m = 101,28m²; diện tích tầng lầu 22,2m x 4,8m = 106,56m²; tổng diện tích căn nhà là 207,84m², giá trị còn lại 75%, trị giá 968.428.800 đồng. Tổng giá trị nhà đất là 1.287.238.000 đồng ( làm tròn số).
Quá trình thu thập chứng cứ xác định:
Các bên đương sự đều thừa nhận: thửa đất số 562, tờ bản đồ 28a, xã P, có nguồn gốc của bà Phạm Thị Đ nhận chuyển nhượng vào năm 2003, trên đất đã có căn nhà cũ. Sau khi ông A và bà T kết hôn năm 2007 thì về sinh sống ở nhà đất này cùng bà Đ. Năm 2013 thì xây dựng lại căn nhà 2 tầng như hiện tại. Năm 2014, ông A, bà T tự ý đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi bà Đ phát hiện thì ông A, bà T chuyển trả quyền sử dụng đất lại cho bà Đ theo hợp đồng tặng cho lập ngày 09/7/2020 và bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 687166 ngày 30/7/2020.
Nguồn tiền xây nhà ông A, bà Đ xác định là của bà Đ dành dụm và do con gái bà từ nước ngoài gửi về cho bà và được bà T thừa nhận là tài sản của bà Đ. Ngoài ra, bà T xác định vợ chồng bà có góp vào số tiền 350.000.000 đồng trong giá trị xây dựng tại thời điểm là 1.100.000.000 đồng, mặc dù bà T không có giấy tờ chứng minh có đưa số tiền 350.000.000 đồng, ông A không thừa nhận vợ chồng có số tiền này nhưng được bà Đ thừa nhận: “nghe ông A, bà T có nói đóng góp vào số tiền 300.000.000 đồng” nhưng bà Đ cho rằng bà đã hoàn trả cho ông A, bà T khi hai bên sang tên lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà, ông A xác định đã nhận lại tiền từ bà Đ và vợ chồng đem trả nợ vay Ngân hàng. Tuy nhiên, bà Đ, ông A không có giấy tờ chứng minh việc đã hoàn trả số tiền 300.000.000 đồng cho bà T, ông A.
[2.2] Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập giữa bên tặng cho là bà Phạm Thị Đ và bên được tặng cho là ông Võ Ngọc A, bà Nguyễn Thị Kim T số chứng thực 84, quyền số 01/2020-SCT/HĐ,GD ngày 08/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã P:
Về hình thức: Bà Phạm Thị Đ cho rằng bà không đủ tỉnh táo, minh mẫn, không viết không ký được nhưng bà thừa nhận biết đọc, biết viết, đã lăn tay vào từng trang của Hợp đồng tặng cho và không yêu cầu giám định. Tại giấy chứng nhận sức khỏe ngày 29/5/2023 xác định bà Đ có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, đủ tỉnh táo và các giao dịch khi chuyển quyền, ủy quyền cùng thời điểm và sau này bà Đ đều in dấu vân tay, do đó về hình thức đã tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 459, Điều 500, Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015.
Về nội dung: Hợp đồng thể hiện “tặng cho quyền sử dụng diện tích thửa đất số 562 (ONT) tờ bản đồ 28a, xã P”. Bà Đ cho rằng việc tặng cho này là để ông A đứng tên quyền sử dụng đất chứ không cho hẳn và việc tặng cho có điều kiện là bà T phải thương yêu gia đình, chung sống hạnh phúc, nuôi dạy con cái nhưng sau khi được tặng cho bà T làm đơn ly hôn ông A nên bà đòi lại tài sản. Tuy nhiên, trong hợp đồng tặng cho không ghi điều kiện và cũng không có văn bản, tài liệu khác thể hiện thỏa thuận, thống nhất về điều kiện tặng cho nên không có cơ sở xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Đ với ông A, bà T là hợp đồng tặng cho có điều kiện. Do đó, không có căn cứ để hủy bỏ hợp đồng tặng cho lập ngày 08/10/2020. Kể từ thời điểm ông Võ Ngọc A, bà Nguyễn Thị Kim T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 569641 ngày 15/01/2021 thì quyền sử dụng đất đã chuyển quyền thuộc về tài sản chung của ông A, bà T.
Trên thửa đất có căn nhà 2 tầng tổng diện tích sử dụng 207,84m² của bà Đ chưa được xác lập quyền sở hữu. Bà T cũng không có tài liệu chứng minh việc được tặng cho căn nhà, trong khi đó bà Đ không thừa nhận, căn nhà đã tồn tại trước khi có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và bà Đ vẫn sinh sống trên nhà, đất này. Tại phiên tòa bà T đồng ý không tranh chấp quyền sở hữu căn nhà. Bản án sơ thẩm chỉ dựa trên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để xác định ông A, bà T có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất là không phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 118 Luật Nhà ở 2014, Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015.
[2.3] Xét về nhu cầu sử dụng nhà, đất:
Bà T yêu cầu được nhận hiện vật là nhà, đất để ờ; Ông A yêu cầu trả lại nhà, đất cho mẹ ông là bà Đ; Bà Đ cũng có yêu cầu nhận nhà, đất để thờ phụng chồng và sống cuối đời. Các bên đương sự đều không ai có chổ ở nào khác.
Căn nhà gắn liền vật kiến trúc trên thửa đất 562, tờ bản đồ 28a, xã P là công trình xây dựng kết cấu kiên cố, không thể chia đôi và thực tế các bên không thể tiếp tục sống chung nhà. Bà T là phụ nữ và đang trực tiếp nuôi 03 con khi ly hôn; Bà Đ hiện tại 99 tuổi và diện tích nhà đất có nguồn gốc là của bà Đ tạo lập, căn nhà bà Đ sử dụng thờ cúng chồng. Quá trình tố tụng ông A tự nguyện trả lại quyền sử dụng đất cho bà Đ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 569641 ngày 15/01/2021 bà Đ vẫn giữ từ trước đến giờ và không cầm cố, thế chấp ở bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
Nhận thấy, bà Đ đã cao tuổi, sức yếu, có hạn chế trong việc thay đổi, tạo lập chỗ ở khác nên việc giao nhà đất cho bà Đ sở hữu, sử dụng và bà Đ thanh toán cho bà T trị giá quyền sử dụng đất được nhận trong khối tài sản chung vợ chồng. Đồng thời, bà Đ hoàn trả cho ông A, bà T số tiền 300.000.000 đồng là phù hợp với nguồn gốc và quá trình hình thành tài sản. Quyền sử dụng đất đã được định giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường tại thời điểm tranh chấp là đảm bảo quyền lợi cho đương sự nhận giá trị bằng tiền. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm bà Đ đồng ý hổ trợ thêm cho bà T số tiền 500.000.000 đồng cũng đủ để tạo lập chỗ ở mới cho các con là đã đảm bảo quyền lợi cho bà T.
[3] Chia tài sản chung của ông Võ Ngọc A, bà Nguyễn Thị Kim T:
Tài sản chung của ông A, bà T có trong thời kỳ hôn nhân là quyền sử dụng đất diện tích 103m² trị giá 318.808.999 đồng và số tiền 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, cần xem xét đến công sức đóng góp của ông A nhiều hơn vì quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ mẹ ông A cho, do đó xác định phân chia theo tỷ lệ ông A được hưởng 60% giá trị quyền sử dụng đất trị giá 191.285.000 đồng, bà T được hưởng 40% giá trị quyền sử dụng đất trị giá 127.524.000 đồng. Đối với số tiền 300.000.000 đồng xác định công sức ngang nhau, chia đôi mỗi người được nhận ½ là 150.000.000 đồng. Như vậy, bà T được nhận tài sản chung là số tiền 277.524.000 đồng; Ông A được nhận tài sản chung số tiền 341.285.000 đồng, tuy nhiên ông A tự nguyện trả quyền sử dụng đất cho bà Đ và không yêu cầu bà Đ hoàn trả tiền nên chấp nhận.
Cấp sơ thẩm đã xác định chưa đúng về căn cứ xác lập quyền sở hữu, tài sản chung vợ chồng cũng như công sức đóng góp khi phân chia tài sản chung theo quy định tại điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, cần rút kinh nghiệm.
Từ những phân tích, nhận định như trên, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ và ông Võ Ngọc A; Sửa một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
[4] Về chi phí tố tụng:
Chi phí tại giai đoạn sơ thẩm số tiền 5.108.850 đồng, do bà Đ đã nộp tạm ứng nên bà T, ông A phải mỗi người phải hoàn trả cho bà Đ số tiền 1.701.000 đồng (làm tròn số).
[5] Về án phí:
[5.1]Án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên tiền án phí dân sự sơ thẩm được sửa lại cho phù hợp. Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu 13.876.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần tài sản được chia và 75.000 đồng án phí đối với trường hợp thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa.
Ông Võ Ngọc A phải chịu 75.000 đồng án phí đối với trường hợp thuận tình ly hôn và 300.000 đồng án phí về thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Bà Phạm Thị Đ thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ tiền án phí.
[5.2]Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo bà Đ, ông A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông A số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.
Những nội dung khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ: khoản khoản 2,3 Điều 26; khoản 1,5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 148; Điều 157; Điều 165; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Điều 33; Điều 37; Điều 55, Điều 56; Điều 59; Điều 62; Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 459, Điều 500, Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 118 Luật Nhà ở 2014.
Điều 12; Điều 26; Điều 27; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Đ và bị đơn ông Võ Ngọc A.
Sửa một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Cụ thể như sau:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T đối với bị đơn ông Võ Ngọc A về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn”.
Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Võ Ngọc A.
Về con chung: Công nhận sự thoả thuận về việc nuôi con chung của ông Võ Ngọc A, bà Nguyễn Thị Kim T.
Giao 03 con chung tên Võ Thị Minh C, sinh ngày 09/01/2008; Võ Quốc H, sinh ngày 22/5/2011 và Võ Quốc K, sinh ngày 02/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng;
Ông Võ Ngọc A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 con chung mỗi tháng là 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm ngàn đồng), (mỗi người con 1.300.000 đồng/ tháng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, lao động tự túc được.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Đ.
Giao cho bà Phạm Thị Đ được quyền sử dụng thửa đất số 562, tờ bản đồ số 28a, xã P, có diện tích 103,0m² (loại đất ONT) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 569641 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 15/01/2021, được xác định bởi các điểm (1,2,3,4,5,6) theo Trích lục bản đồ địa chính số 1287/2023 ngày 06/9/2023 của Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện T và quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 Căn nhà 2 tầng, khung bê tông cốt thép, mái lợp ngói, nền lát gạch Ceramic, trần thạch cao, khung nhôm chìm, tường sơn nước, có một phần tường ốp gạch men, diện tích tầng trệt 21,2m x 4,8m = 101,28m², diện tích tầng lầu 22,2m x 4,8m = 106,56m², tổng diện tích căn nhà là 207,84m². Bà T, ông A phải giao trả lại nhà, đất cho bà Đ quyền sở hữu, sử dụng.
Bà Phạm Thị Đ có quyền, nghĩa vụ liên hệ Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp, đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quyết định của bản án và theo đúng quy định pháp luật về đất đai.
Bà Phạm Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim T số tiền 277.524.000 đồng (Hai trăm bảy mươi bảy triệu năm trăm hai mươi bốn ngàn đồng) và số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) hổ trợ tạo lập chổ ở mới cho các con. Bà Nguyễn Thị Kim T được quyền sở hữu số tiền chia tài sản chung khi ly hôn do bà Đ thanh toán, tồng cộng 777.524.000 đồng (B trăm bảy mươi bảy triệu năm trăm hai mươi bốn ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, khoản 2 điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.
( Có trích lục bản đồ số 1287/2023 ngày 06/9/2023 của Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện T kèm theo).
3.Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim T, ông Võ Ngọc A mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phạm Thị Đ số tiền 1.701.000 đồng (Một triệu bảy trăm lẻ một ngàn đồng) chi phí thẩm định, định giá, trích lục thửa đất.
4.Về án phí:
4.1.Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu 13.951.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm năm mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng và 5.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001566 ngày 20/02/2023 và số 0001620 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Bà T còn phải nộp thêm 8.651.000 đồng (Tám triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn đồng) án phí sơ thẩm.
Ông Võ Ngọc A phải chịu 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị Đ.
4.2.Án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho ông Võ Ngọc A số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002292 ngày 23/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
Những quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 09/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
Bản án số 08/2024/HNGĐ-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn; hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đòi lại tài sản là nhà, đất.
- Số bản án: 08/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn; Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đòi lại tài sản là nhà, đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thi Kim T - Vo Ngoc A
