|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 01 - 2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải An.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Hoàng
- Bà Trần Thị Đổi
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1194/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 201/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Hoàng H, sinh năm 1994. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Chị Ngô Ngọc H1, sinh năm 1989. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 26 tháng 10 năm 2023 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Trần Hoàng H trình bày: Anh và chị Ngô Ngọc H1 chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả, dù đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh và chị Ngô Ngọc H1 đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên anh xin ly hôn với chị Ngô Ngọc H1.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị Ngô Ngọc H1 có 01 con chung tên Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 14/12/2018. Từ khi ly thân đến nay, con chung do chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị H1 tiếp tục nuôi con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Sau khi thụ lý vụ án, anh H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng chị H1 vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Anh Trần Hoàng H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Ngô Ngọc H1, chị H1 hiện cư trú tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (được Công an xã M xác nhận) nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị H1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Thấy rằng, trong quá trình chung sống, anh H cho rằng do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, dù đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên anh và chị H1 ly thân từ năm 2020 đến nay. Mâu thuẫn giữa anh chị cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Đối với chị Ngô Ngọc H1, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của anh H nhưng chị H1 không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của anh H. Tại phiên tòa, chị H1 vẫn vắng mặt, chứng tỏ không có thiện chí để hàn gắn trong khi thời gian ly thân đã lâu. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của anh chị không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị H1 là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung và cấp dưỡng: Quá trình chung sống, anh H xác định có 01 con chung tên Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 14/12/2018. Từ khi ly thân đến nay, con chung do chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh H đồng ý để chị H1 tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đối với chị H1, dù đã được thông báo về yêu cầu của anh H đối với con chung nhưng không đến Tòa án cũng không có văn bản phản hồi ý kiến gửi Tòa án.
- Về tài sản chung: Anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị H1 không có văn bản phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Về nợ chung: Anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị H1 không có văn bản phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Xét thấy, anh H xác định từ khi anh H và chị H1 xa nhau đến nay, chị H1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung, con chung còn nhỏ tuổi cần sự chăm sóc của mẹ hơn; anh H có lời trình bày đồng ý để chị H1 tiếp tục nuôi con chung; do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao con chung cho chị H1 nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh H trình bày không cấp dưỡng nuôi con chung, chị H1 không có văn bản phản hồi ý kiến về cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Hoàng H đối với chị Ngô Ngọc H1 về việc “Ly hôn”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Hoàng H được ly hôn với chị Ngô Ngọc H1.
- - Về con chung: Chị Ngô Ngọc H1 được quyền tiếp tục nuôi 01 con chung tên Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 14/12/2018. Anh Trần Hoàng H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì không có yêu cầu.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Anh H trình bày không có; chị H1 không có ý kiến nên không xem xét.
- Về án phí: Anh Trần Hoàng H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006395 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hải An |
Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ÔNG H LY HÔN BÀ H
