TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST Ngày 08-01-2024 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thanh Hiện
- Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 758/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 438/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Cà Sen, sinh năm: 1996 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Thành Thưởng, xã An Trạch, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Anh Du Vũ Linh, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/11/2023 chị Trần Thị Cà Sen trình bày: Chị và anh Du Vũ Linh chung sống với nhau từ năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Trạch, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 14/02/2019). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong quá trình chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải với nhau. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Linh.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Linh có 01 người con tên Du Trần Thiên Kim, sinh năm 2019. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Sen không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
- Bị đơn anh Du Vũ Linh: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Linh vẫn vắng mặt không lý do; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh Du Vũ Linh có nơi cư trú tại ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Trần Thị Cà Sen khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Du Vũ Linh. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Sen xin vắng mặt, anh Linh vắng mặt; Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Cà Sen và anh Du Vũ Linh xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống giữa vợ chồng chị Sen và anh Linh phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống không hòa hợp, không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Linh không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Sen. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sen, cho chị Sen được ly hôn với anh Linh.
[3] Về con chung: Chị Sen và anh Linh có 01 người con chung tên Du Trần Thiên Kim, sinh năm 2019. Khi ly hôn chị Sen yêu cầu được trực tiếp nuôi con.
Xét, con chung tên Du Trần Thiên Kim, sinh năm 2019. Hiện nay cháu Kim đang sống cùng với chị Sen, gần gũi với chị, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt, cháu Kim là nữ nên mẹ chăm sóc là phù hợp, anh Linh cũng không có yêu cầu gì về con chung. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Du Trần Thiên Kim, sinh năm 2019 cho chị Sen trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Linh không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
[4] Về cấp dưỡng: Chị Sen không đặt ra, anh Linh không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ: Chị Sen không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Sen phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Cà Sen về việc ly hôn với anh Du Vũ Linh.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Du Trần Thiên Kim, sinh năm 2019 cho chị Trần Thị Cà Sen được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Du Vũ Linh không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
- Về án phí: Chị Trần Thị Cà Sen phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; Ngày 10/11/2023 chị Sen đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004044 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đoan |
Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
