|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 08/2024/DS-PT Ngày: 08/01/2024 V/v: Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thanh Bình
Ông Chu Tuấn Anh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Ngô Phương Liên- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 61/2021/TLPT - DS ngày 29/01/2021 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2018/DS-ST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2023/QĐ - PT ngày 22/8/2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 668/2023/TB-TA ngày 22/12/2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Lã Văn Dũng ; sinh năm 1965; Hộ khẩu thường trú: Số 1-B13, Tập thể 51 phố Cảm Hội, phường Đống Mác, quận hai Bà Trưng, Hà Nội. (có mặt)
* Bị đơn: Ông Lã Văn Hạnh; sinh năm 1959; Hộ khẩu thường trú: Số 94, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: Số 35- C1- đường Đồng Bát, tổ 48, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (có mặt)
* Bị đơn có yêu cầu phản tố: Bà Phan Thị Loan; sinh năm 1960; Hộ khẩu thường trú: Số 94, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: Số 35- C1- đường Đồng Bát, tổ 48, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Huyền Trâm; sinh năm 1976; HKTT: Số 1- B13, tập thể 51, phố Cảm Hội, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. (có mặt)
- Anh Hoàng Lương Bộ; sinh năm: 1982; Hiện trú tại: Số 94, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Chị Hoàng Thị Hải Yến; sinh năm 1989; Trú tại: Tập thể xây dựng điện 1, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Ông Lã Mạnh Toàn; sinh năm 1968 và Bà Hoàng Thị Kim Chi; sinh năm 1971; Hiện trú cùng trú tại: Số 94, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (có mặt);
- Ông Lã Văn Lượng; sinh năm 1979 và vợ là Bà Nguyễn Thị Hiền; Hiện cùng trú tại: Số 94, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Chị Lã Hồng Linh; sinh năm 1991; Hiện trú tại: Số 35, C1, tổ 48, đường Đồng Bát, tổ 48, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (có mặt)
- Ông Phan Văn Tiễu; sinh năm 1932. (vắng mặt)
- Bà Đào Thị Thoi; sinh năm 1939. (vắng mặt)
Cùng trú tại: Đội 14, Minh Thắng, Cầu Bo, xã Yên Chính, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tiễu, bà Thoi: Bà Phan Thị Loan- sinh năm 1960; HKTT tại: Số 94, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: Số 35, C1, tổ 48, đường Đồng Bát, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Ông Sái Văn Đức; sinh năm 1958; Trú tại: Tổ 17, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân phường Mai Dịch; Địa chỉ: Số 18, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Bệnh viện 19- 8 Bộ Công An; Địa chỉ: Số 42, phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Tổng Cục Hậu Cần - Bộ Công An; Địa chỉ: Số 80 đường Trần Quốc Hoàn, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân quận Cầu Giấy; Địa chỉ: Số 36, đường Cầu Giấy, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Uỷ ban nhân dân phường Mỹ Đình 2; Địa chỉ: Đường Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
Người kháng cáo:
- Ông Lã Văn Dũng;
- Bà Phan Thị Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án, Nguyên đơn là ông Lã Văn Dũng trình bày có nội dung: Năm 1984 ông đi học tập và lao động tại Tiệp Khắc.
Do gi đình khó khăn, đông anh em nên ông nhiều lần gửi thùng hàng về cho ông Hạnh nhân bán lấy tiền lo cho gia đình. Cuối năm 1991, ông gửi cho ông Hạnh 5.000USD qua Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam. Bố ông đã yêu cầu ông Hạnh mua nhà đất để sau này ông về nước có chỗ ở ổn định. Chính vì vậy ông Hạnh đã sử dụng tiền của ông để mua nhà của ông Đỗ Dũng. Việc mua bán hoàn toàn do ông Hạnh đứng tên và cùng nói với mọi người trong đơn vị là ông hộ em trai. Sau khi mua được nhà, ông Hạnh và bố mẹ ông đã giao cho ông Toàn là em trai ông ở trông nom cho đến khi ông về nước và thậm chí đến nay ông Toàn vẫn ở. Ngoài ông Toàn, gia đình ông cũng lấy nhà này làm chỗ sinh hoạt khi lên Hà Nội và các em khác cũng ở tại đây.
Khi ông về nước, ông Hạnh đã bàn giao toàn bộ giấy tờ nhà đất cho ông và sau đó 3 anh em đã có sự thỏa thuận phân chia, nhưng chị dâu ông là bà Phan Thị Loan đã không đồng ý và cho rằng nhà đất của bà. Quan điểm của bà Loan là vô lý bởi lẽ ông Hạnh là người đứng ra mua nhà xác định dùng tiền của ông gửi về để mua nhà và đều nói với mọi người là mua nhà hộ em trai. Chính vì ông Hạnh chưa có nhà nên năm 2005 mới được phân nhà tập thể của Bệnh viện 198 tại khu Đồng Bát, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ông yêu cầu Tòa án công nhận toàn bộ 141m² đất tại số 94 phố Trần Bình và nhà 32m² xây dựng trên đất là tài sản hợp pháp của ông.
* Bị đơn là ông Lã Văn Hạnh trình bày có nội dung: Ông xác nhận có nhận số tiền 5.000USD do ông Dũng gửi về năm 1991 qua Công ty Vinaconex. Khi gửi tiền, ông Dũng không nói để mua nhà đất, nhưng được sự nhất trí của bố mẹ ông, ông đã dùng số tiền này để mua căn nhà cấp 4, diện tích 32m² trên tổng diện tích đất 141m² tại số 4 - A7, tập thể bệnh viện 198 của ông Đỗ Dũng - Nguyên là Phó Giám đốc Bệnh viện 198 Bộ Công an. Mục đích mua nhà để khi ông Dũng về nước có chỗ ở ổn định và anh em sẽ giải quyết với nhau. Việc mua bán do ông trực tiếp đến giao dịch với vợ chồng ông Đỗ Dũng và ông cũng là người đứng tên trên giấy tờ mua bán. Những lần đi trả tiền, có lần bà Loan đi cùng, có lần ông Đỗ (bạn của ông) đi cùng. Giấy tờ chuyển nhượng và biên nhận tiền chỉ có ông Đỗ Dũng và ông đứng tên, không có tên bà Loan (vợ ông). Ông đã trả tiền ông Đỗ Dũng làm 03 lần: Đợt 1 trả 900USD; Đợt 2 trả 03 cây vàng 98% và Đợt 3 là 1.100 USD.
Vào thời điểm đó, bố vợ ông là Phạm Văn Tiễu đi công tác tại Ănggola cũng có gửi tiền về cho bà Loan, nhưng không nói gì đến việc mua nhà đất, nên giao dịch mua nhà đất trên không phải là mua cho ông Tiễu. Tiền ông nhận của ông Dũng gửi về và tiền bà Loan nhận của bố gửi về thì vợ chồng cùng để chung trong tủ nên khi ông lấy tiền ra để trả tiền mua nhà ông Đỗ Dũng thì có thể lẫn hai loại tiền với nhau. Thực tế khi mua nhà đất này ông chỉ bàn bạc với bố đẻ ông chứ không nói gì với bà Loan. Sau khi nhận nhà đất trên, ông đã giao nhà đất cho em trai ông là Lã Mạnh Toàn đến ở và trông coi hộ, còn vợ chồng ông vẫn ở nhờ tại nhà xe của Bệnh viện 198. Trong quá trình ông Toàn ở đã sửa chữa, cải tạo, làm thêm dãy kiot mặt phố Trần Bình như hiện nay và nộp thuế sử dụng đất.
Năm 2005, ông Dũng về nước, ba anh em ông đã đến Văn phòng luật sư Thái Hòa lập bản thỏa thuận phân chia nhà đất. Cụ thể: Mảnh đất có tổng diện tích là 200m² (bao gồm cả phần đất cơi nới phía trước) sẽ chia dọc làm 4 phần bằng nhau: Ông Hạnh 1 phần, ông Toàn 1 phần và ông Dũng 2 phần.
Đến nay, có sự tranh chấp giữa anh chị em trong gia đình, ông rất mong muốn để các bên hòa giải theo phương án: Tổng diện tích đất 200m² (trong đó có cả phần diện tích cơi nới phía mặt tiền là 57,1m²), sẽ chia cho Lã Văn Hạnh 75m², Lã Văn Dũng 75m² và Lã Văn Toàn 50m². Nếu các bên không đồng ý, ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn có yêu cầu phản tố là bà Phan Thị Loan trình bầy trong các đơn và bản khai với nội dung:
Bà và ông Hạnh cưới nhau ngày 22/01/1990, tài sản không có gì ngoài chiếc hòm gỗ của sinh viên, phải ở nhờ gian bếp của Ban xây dựng Bệnh viện 198- Bộ công an (nơi công tác của ông Hạnh). Vợ chồng bà phải nuôi em trai chồng là Lã Văn Thế bị bệnh và các em Lã Văn Toàn, Lã Văn Lượng. Cả gia đình phải sống trong gian nhà thường xuyên bị dột và ngập lụt. Chồng bà là con trai trưởng trong gia đình có 8 anh chị em. Gia đình chồng kinh tế khó khăn, chuyển từ Nam Định lên Bắc Giang sinh sống. Mọi công việc trong gia đình chồng đều do chồng bà là người quyết định.
Việc mua mảnh đất này là do cô ruột của bà là Đào Thị Doanh (là bạn thân của ông Đỗ Dũng) giới thiệu. Theo quy định của Bệnh viện 198 thì nhà này chỉ được bán cho người trong ngành Công an. Vợ chồng bà phải nhờ ông Sái Văn Đức (là bác sĩ bệnh viện 198) đứng tên hộ.
Quá trình mua bán, bà là người trực tiếp giao dịch với bà Ngọc Anh (vợ ông Đỗ Dũng). Khi thanh toán tiền, trực tiếp bà là người giao tiền cho bà Ngọc Anh, có giấy biên nhận. Tiền để mua nhà đất này là tiền của bố đẻ bà là ông Phan Văn Tiễu làm chuyên gia tại Ănggola gửi về và dặn bà mua nhà đất để ở cho rộng rãi. Bà khẳng định nhà đất là tài sản riêng của bà.
Ngày 06/9/1992, ông Đỗ Dũng trực tiếp chuyển quyền sở hữu cùng toàn bộ giấy tờ nhà đất cho bà và bà Ngọc Anh là người giao nhà đất cho bà. Khi bàn giao, ngoài nhà đất, còn có phần đất lưu không sát mương nước (nay là dãy kiot) để trồng rau, nên bà xác định đây cũng là phần đất bà nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Đỗ Dũng. Sau đó ông Hạnh chuyển hộ khẩu ba mẹ con bà về số nhà 4 - A7, tổ 47, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Khi mua nhà đất xong, vì không thể để các em chồng ở nhờ tại Tập thể bệnh viện nên bà cho em chồng là ông Toàn ở nhờ, còn vợ chồng bà vẫn phải ở tại nhà xe Bệnh viện. Sau này thì có các ông Thế, Lượng mỗi người mượn một ô để kiếm sống.
Nay ông Lã Văn Dũng là em trai ông Hạnh từ Tiệp Khắc về đòi nhà của vợ chồng bà là không hợp pháp. Để có được giấy tờ theo nguyện vọng của ông Dũng, ông Dũng đã nhiều lần đến cơ quan ông Hạnh kéo theo cả mẹ chồng bà vào nói thô tục, hành hung, khống chế để lấy được giấy tờ nhà. Sau đó ba anh em ông Hạnh, Dũng, Toàn tự chia nhau tài sản của bà mà bà không được biết.
Ngày 14/6/2016, bà Phan Thị Loan có Đơn phản tố: Yêu cầu Tòa án tuyên bố toàn bộ nhà, kiot và diện tích đất 199m² thuộc quyền hở hữu và sử dụng của bà Loan; buộc toàn bộ những người trên đất phải ra khỏi nhà đất để trả lại cho bà.
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bầy:
- Ông Lã Mạnh Toàn trình bày: Nguồn gốc nhà đất tranh chấp do ông Hạnh là người đi mua bằng tiền của ông Lã Văn Dũng (là anh trai của ông) gửi về. Lúc đó, ông Dũng ở Tiệp Khắc có gửi tiền và hàng về, ông Hạnh thay mặt gia đình quản lý và chi tiêu. Việc mua nhà này do ông Hạnh quyết định. Bố mẹ ông ở quê xuống chơi còn nói đây là chỗ để sau này anh em đi lại, là trụ sở của gia đình ở Hà Nội. Sau khi mua xong, ông được ông Hạnh giao chìa khóa để trông nom nhà đất, vợ chồng ông Hạnh không hề ở trên đất ngày nào. Đầu năm 1993, ông xây dựng gia đình riêng, được bố mẹ và ông Hạnh đồng ý cho tiếp tục ở lại trông nom ngôi nhà trên. Quá trình ở, ông là người nộp thuế nhà đất hàng năm, cải tạo sửa chữa nhà cũ và xây dãy kiot trên phần đất lưu không sát mương (nay là mặt phố Trần Bình). Khi xây kiot, vợ chồng ông Hạnh và bà Loan không có ý kiến gì.
Năm 2005 ông Dũng về nước và ở cùng với vợ chồng ông. Khi đó giữa ông Dũng và ông đã xảy ra mâu thuẫn vì ông Dũng cho rằng vợ chồng ông phải chuyển đi nơi khác và yêu cầu ông Hạnh phải đưa lại giấy tờ nhà để quản lý.
Năm 2007 ông Dũng định cưới vợ, nên việc ở chung với vợ chồng ông là không thể, nên anh em bàn bạc và ông Hạnh quyết định cắt 1/4 mảnh đất cho ông. Do ông Dũng nợ tiền của ông là 25.000 USD, nên ông lấy 1/4 diện tích đất đó để trừ nợ). Khi ông xây nhà, bà Loan không đồng ý vì cho rằng anh em chia đất không bàn bạc gì với bà Loan, nên ông dừng việc xây dựng lại.
Nay xảy ra tranh chấp, ông yêu cầu Tòa án giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các bên và vẫn nhất trí phương án hòa giải do ông Hạnh đưa ra. Về số tiền ông Dũng nợ ông, đây là việc giữa vợ chồng ông và ông Lã Văn Dũng. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết việc vay nợ giữa 2 anh em ông.
Về diện tích kiot 50m² vợ chồng ông xây, các khoản tiền thuế đất, lệ phí các khoản ông đã nộp từ 1992 đến nay và phần xây dựng móng nhà trên diện tích đất có trong quyết định và phần đất lưu không, vợ chồng ông bàn giao hết cho ông Lã Văn Dũng. Vợ chồng ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Lã Văn Thế, ông Lã Văn Lượng và bà Nguyễn Thị Hiền (vợ ông Lượng) trình bày :
Về nguồn gốc mảnh đất các ông, bà nhất trí với phần trình bầy của các anh trai là ông Hạnh, ông Dũng và ông Toàn. Vào năm 2001 và năm 2002 được sự đồng ý của mẹ và ông Hạnh, ông Lượng, ông Thế có đến ở tại nhà đất số 94 phố Trần Bình để trông nom cùng ông Toàn, nhưng do sức khoẻ yếu nên các anh rất ít ở tại nhà đất 94 phố Trần Bình, chỉ thỉnh thoảng ở một vài tháng rồi về quê với mẹ. Còn vợ chồng ông Hạnh, bà Loan vẫn ở nhà tại khu tập thể của bệnh viện 198.
Trong quá trình ăn ở sinh hoạt trên nhà đất trên, ông Lã Mạnh Toàn là người cơi nới, bỏ tiền ra xây dựng 5 kiot tổng diện tích khoảng 50m² phía mặt phố Trần Bình hiện nay để cho thuê và anh em bán hàng. Các ông, bà xác định chỉ ở trên nhà đất cùng với vợ chồng ông Toàn chứ không có công sức đóng góp gì. Vợ chồng ông Toàn ở tại nhà đất trên trong suốt thời gian đến năm 2008 không có sự tranh chấp gì và là người đóng thuế nhà đất hàng năm.
Việc ông Hạnh, ông Dũng và ông Toàn lập văn bản phân chia nhà và đất này, là rất hợp tình hợp lý. Các ông là em trai chỉ sử dụng chứ không có công sức đóng góp gì nên không đòi hỏi quyền lợi ở nhà đất trên nên từ chối tham gia tố tụng tại Toà án.
- Chị Lã Hồng Linh trình bày: Chị là con gái lớn của ông Lã Văn Hạnh và bà Phan Thị Loan. Vào thời điểm gia đình mua thửa đất này chị còn nhỏ, nhưng khi lớn chị được biết bố mẹ mua thửa đất này bằng tiền của ông bà ngoại. Khi lớn lên chị cùng bố mẹ và em không ở trên thửa đất này mà ở ngôi nhà khác. Chị không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản này. Nay ông Dũng khởi kiện, chị đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
- Đại diện Tổng cục Hậu cần Bộ Công an và Bệnh viện 198 trình bày: Năm 1990 ông Đỗ Dũng được cấp ngôi nhà cấp 4 diện tích xây dựng 32m² trên diện tích 141m² đất tại số 4 A7 khu A tập thể bệnh viện 198 (nay là số 94 phố Trần Bình - tổ 47 phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội). Khi cấp nhà cho cán bộ, Bệnh viện 198 có quy định không được bán cho người khác ngoài ngành Công an.
Việc ông Đỗ Dũng bán căn nhà trên cho ông Lã Văn Hạnh, Bệnh viện 198 có biết và đã có quyết định 215 ngày 18/01/1998 chuyển giao quyền sử dụng giữa ông Đỗ Dũng sang tên ông Lã Văn Hạnh. Thực chất quyết định 215 của Bệnh viện chỉ là sự chuyển giao giữa hai người mà thôi chứ không có nội dung nào khác.
Năm 2008, Bệnh viện có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ trong khu tập thể của cơ quan, nhưng vào thời điểm này gia đình ông Hạnh có mâu thuẫn nên Bệnh viện chưa làm thủ tục cấp giấy cho hộ gia đình ông Hạnh.
Hiện tại thửa đất này cơ quan chúng tôi vẫn đang quản lý chưa bàn giao sang Ủy ban nhân dân các cấp. Phần diện tích đất ngoài tường cơ quan (nay là dãy ki ốt) không thuộc quyền quản lý của Bệnh viện 198.
Nay vụ kiện giữa anh em ông Hạnh, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
- Đại diện Ủy ban nhân dân phường Mai Dịch và Ủy ban nhân dân quận Cầu Giấy trình bày: Theo bản đồ giải thửa do địa phương quản lý thì phần diện tích phía trong tường bao cũ của bệnh viện, hiện do bệnh viện 198 quản lý. Phần diện tích ngoài tường bao (nay đã xây dựng dãy kiốt mặt phố Trần Bình) thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy quản lý theo Biên bản và sơ đồ đo vẽ hiện trạng ngày 27/03/2018. Nay vụ kiện giữa anh em ông Hạnh chúng tôi đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
- Ông Phan Văn Tiễu và bà Đào Thị Thoi trình bày trong các đơn, bản khai có nội dung:
Ông, bà là bố mẹ đẻ của bà Phan Thị Loan. Năm 1989 ông Tiễu sang Ănggola làm chuyên gia y tế, thời gian 3 năm, mức lương 1.300USD/tháng do nước bạn trả, về sau là 3000USD/tháng, nhưng thực tế nhà nước Việt Nam thu hết chỉ trả cho ông mỗi tháng 100USD. Toàn bộ số tiền này cho đến khi hết thời hạn công tác tại nước bạn, thì Đại sứ quán Việt Nam mới thanh toán trả cho ông.
Nguồn tiền ông gửi về nước cho con gái là Phan Thị Loan là do ông mua hàng ở Việt Nam đem sang bán, có lãi lại gửi tiền về nhờ bà Loan mua hàng gửi tiếp sang. Từ năm 1989 đến năm 1992, ông gửi tiền về Việt Nam làm 4 lần do bà Loan nhận tổng cộng là 15.800 USD. Mục đích ông gửi tiền về cho bà Loan là để bà Loan gửi về quê cho vợ ông là bà Đào Thị Thoi nhận và mua nhà đất tại 94 Trần Bình. Tất cả những lần gửi tiền này đều thông qua bạn bè nên ông không có tài liệu gì để xuất trình cho Tòa án.
Năm 1992 ông về nước, được biết con gái ông không gửi tiền về cho mẹ, nên ông có đòi lại toàn bộ số tiền mà ông đã gửi về nói trên. Đến năm 2001 ông Hạnh đi cùng một anh đồng nghiệp về trả cho ông số tiền 1.500 USD. Cuối năm 2001 bà Loan lại về vay lại số tiền này. Như vậy cho đến nay vợ chồng ông Hạnh và bà Loan còn vay của ông số tiền 1.500 USD chưa trả. Nay em trai ông Hạnh khởi kiện đòi nhà đất mà bà Loan đã mua từ năm 1992, ông có ý kiến: Số tiền 2000USD và 03 cây vàng ông cho riêng con gái ông để mua nhà đất. Số tiền và vàng còn lại vợ chồng bà Loan, ông Hạnh phải tính toán để trả lại cho ông. Đây là việc riêng giữa vợ chồng ông và vợ chồng bà Loan, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Ông Sái Văn Đức trình bày :
Ông xác nhận năm 1992, ông đứng tên hộ ông Lã Văn Hạnh mua căn nhà đất tại số 4, A7 tập thể bệnh viện 198 của ông Đỗ Dũng, nguyên là Giám đốc bệnh viện 198. Sau đó, ông đã chuyển tên sang cho ông Hạnh. Cụ thể mua căn nhà và đất đó là bao nhiêu tiền và giao tiền giao nhà đất như thế nào ông không biết vì mọi giao dịch mua bán đều do anh Hạnh đứng ra giao dịch và quyết định
Nay anh em anh Lã Văn Hạnh có sự tranh chấp tài sản là nhà đất trên, ông khẳng định không có liên quan gì đối với tài sản là nhà đất trên. Vì vậy, ông từ chối tham gia tố tụng.
* Kết quả định giá tài sản:
1/ Biên bản định giá ngày 22/7/2011:
* Giá trị xây dựng:
- Dãy 4 kiot xây bê tông, lợp proximang, cửa sắt xếp, diện tích: 3,47m x 13m = 45,11m². Thành tiền: 38.039.459 đồng.
- Phần móng nhà dựng 6 cột, diện tích: 4.64m x 6,12m = 28,397m². Thành tiền: 37.817.481 đồng.
- Nhà xây bê tông 1 tầng, 3 phòng trần bê tông, diện tích: 5,95m x 6,46m = 38,437m². Thành tiền: 68.592.633 đồng.
- Phòng vệ sinh lợp proximang, diện tích: 2,37m x 2,87m = 6,802m². Thành tiền: 6.499.218 đồng.
- Nhà tạm quây cót ép, lợp tôn proximang, diện tích: 32,522m². Thành tiền 27.424.417 đồng.
- Sân láng ximang, diện tích: 46,832m². Thành tiền 3.263.863 đồng.
* Giá trị quyền sử dụng đất: 60.000.000đồng/m².
3/ Biên bản định giá ngày 14/5/2014:
* Giá trị xây dựng: Các bên đương sự giữ nguyên theo kết quả định giá ngày 22/7/2011.
* Giá trị quyền sử dụng đất trong diện tích 141m² là 75.000.000 đồng/m².
* Phần diện tích ngoài chưa xác định được nguồn gốc hợp pháp nên không đưa ra giá.
Tại Bản án dân sự số 13/2012/DSST ngày 21+22/9/2012 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định ông Lã Văn Dũng được toàn quyền sở hữu và sử dụng nhà và 141m² đất tại 94 Trần Bình; Giao ông Dũng quản lý, sử dụng dãy kiot xây dựng trên 57.1m² đất lưu không trước nhà và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Bà Phan Thị Loan kháng cáo. Bản án dân sự phúc thẩm số 150/2013/DSPT ngày 25 và 26/6/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định: Hợp đồng hóa giá số 56/HĐ ngày 16/01/1992 của Bệnh viện 198 chưa phù hợp với quy định của pháp luật về hóa giá nhà nên chỉ có thể xác định quyền sở hữu tài sản đối với nhà. Do chưa có căn cứ làm rõ việc ông Hạnh có quyền sử dụng phần đất ngoài diện tích nhà hóa giá hay không nên hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định.
Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2015/DSST ngày 16,17/9/2015 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn là ông Dũng, người có quyền lợi liên quan là bà Trâm và ông Toàn kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy kháng nghị đối với bản án sơ thẩm số 05/2015/DSST.
Bản án dân sự phúc thẩm số 59/2016/DSPT ngày 04/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định: Do Tòa án sơ thẩm có vi phạm tố tụng trong việc tống đạt và không cho bà Loan thực hiện quyền phản tố là vi phạm tố tụng. Ngoài ra, khi xem xét nội dung đã chưa làm rõ việc có 02 tờ tiền của ông Dũng trong số tiền trả người bán mà đã bác đơn khởi kiện của nguyên đơn là không đảm bảo quyền lợi cho đương sự, nên hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định.
Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử:
“[1] Chấp nhận một phần yêu cầu xác định quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại số 94 phố Trần Bình, tổ 47, phường mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội của ông Lã Văn Dũng.
[2] Xác định quyền sở hữu 38,438m2 nhà và quyền sử dụng diện tích 141m² đất tại nhà đất số 94 phố Trần Bình, tổ 47, phường Mai dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là tài sản chung của các ông, bà Lã Văn Dũng, Lã Văn Hạnh và Phan Thị Loan.
[3] Phân chia quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng 141m2 đất tại nhà đất số 94 phố Trần Bình, tổ 47, phường Mai dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội như sau: (có sơ đồ kèm theo)
- - Giao cho ông Lã Mạnh Toàn quyền sử dụng phần đất đã làm móng và đổ cột có các điểm mốc giới 1, 2, 3, 10.
- - Từ điểm mốc giới 4, kéo một đường song song với phần tường nhà cấp 4 ra phía phố Trần Bình, đến điểm giao nhau với tường rào cũ của nhà số 4 - A7 tập thể bệnh viện 198 là điểm mốc giới 9.
- - Giao cho ông Lã Văn Hạnh và bà Phan Thị Loan quyền sử dụng phần đất tiếp giáp với diện tích đất ông Toàn được chia và các tài sản là nhà tạm, 1 phần diện tích nhà vệ sinh và sân láng ximăng có các điểm mốc giới 3, 4, 9, 10.
- - Giao cho ông Lã Văn Dũng phần diện tích đất còn lại và nhà cấp 4 cũ, 1 phần diện tích nhà vệ sinh và sân láng ximăng có các điểm mốc giới 4, 5, 6, 7, 8, 9.
- - Không bên nào phải thanh toán phần giá trị xây dựng trên đất cho nhau.
[4] Tạm giao phần diện tích kiot trên đất lưu không thẳng phần đất được chia cho mỗi bên quản lý, cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
[5] Ông Lã Văn Hạnh phải có nghĩa vụ cùng các ông Lã Văn Dũng và Lã Mạnh Toàn thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng nhà trên phần diện tích được chia nêu trên.
[6] Không chấp nhận yêu cầu xác định quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số 94 phố Trần Bình, tổ 47, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội của bà Phan Thị Loan.
[7] Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.”
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.
Không đồng ý bản án sơ thẩm, ông Dũng và bà Loan có đơn kháng cáo.
Bản án dân sự phúc thẩm số 135/2020/DS-PT ngày 21/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lã Văn Dũng về việc đòi nhà, đất 94 Trần Bình; Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Loan: Công nhận toàn bộ nhà, đất tại 94 phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là tài sản riêng của bà Phan Thị Loan; Tạm giao 05 ki ốt xây dựng trên 57m² đất liền kề phía trước cho bà Loan trực tiếp quản lý, sử dụng; Ông Dũng phải trả lại giấy tờ chuyển nhượng nhà đất 94 Trần Bình cho bà Loan; Ông Hạnh phải trả lại giấy tờ chuyển nhượng nhà đất 94 phố Trần Bình cho bà Loan; Khoản tiền ông Dũng gửi từ Tiệp Khắc về cho ông Hạnh, ông Hạnh phải có trách nhiệm khi ông Dũng yêu cầu, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác; Bà Loan có trách nhiệm thanh toán công sức giá trị xây dựng cho ông Toàn với số tiền là: 75.856.940đ.
Ông Hạnh, ông Toàn, ông Dũng có đơn khiếu nại đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Quyết định Giám đốc thẩm số 79/2020/DS-GĐT ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã hủy Bản án phúc thẩm số 135/2020/DS-PT ngày 21/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo hướng: Xác định nhà 94 Trần Bình là tài sản chung của ông Dũng, ông Toàn và vợ chồng ông Hạnh, bà Loan; chia nhà, đất cho các bên chú ý đến thỏa thuận giữa 3 anh em ông Hạnh, ông Dũng, ông Toàn tại Văn phòng Luật sư Thái Hòa năm 2007.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bà Loan vắng mặt;
Ông Hạnh và ông Toàn đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Ông Dũng, bà Trâm đề nghị Tòa án: Xác định toàn bộ nhà, đất tranh chấp tại 94 Trần Bình là tài sản riêng của ông Dũng vì tiền mua nhà đất hoàn toàn bằng tiền của ông Dũng, ông Hạnh có công sức trong việc mua nhà đất còn ông Toàn có công sức trong việc duy trì, đóng thuế đất và làm ki-ốt trên phần đất lưu không phía trước. Nếu phải phân chia nhà, đất cho ông Hạnh và ông Toàn thì đề nghị chia theo biên bản phân chia của ông Dũng, ông Hạnh, ông Toàn trước đây tại Văn phòng Luật sư Thái Hòa;
Chị Linh đề nghị Tòa án xác định nhà đất tại 94 Trần Bình là tài sản riêng của mẹ chị là bà Loan do tiền mua nhà đất bằng tiền do ông ngoại chị là cụ Tiễu gửi về cho bà Loan;
Ông Nguyễn Đức Hùng, sinh năm 1975, địa chỉ: Căn hộ số 1206, chung cư Pandora, số 53 Triều Khúc, phường Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, Hà Nội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử đưa ông tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là Người có quền lợi, nghĩa vụ liên quan vì: Ngày 25/5/2020, bà Loan ký “Giấy chuyển nhượng nhà, đất” 94 Trần Bình cho ông với giá 05 tỷ đồng; ông đã giao toàn bộ số tiền chuyển nhượng cho bà Loan, có sự làm chứng của Luật sư Bùi Đức Vũ- Văn phòng Luật sư Vũ Đức; Thời gian dịch covid ông chưa làm thủ tục sang tên được và sau đó có Quyết định Giám đốc thẩm của Tòa án cấp cao. Ông Hùng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của ông: Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng nhà, đất giữa ông và bà Loan là hợp pháp và xác định nhà, đất tranh chấp tại 94 Trần Bình là tài sản của ông; buộc những người đang sử dụng nhà đất này có trách nhiệm giao trả cho ông.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tại phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án. Vụ án để kéo dài quá thời hạn luật định do thời gian dịch bệnh và có nhiều tình tiết phức tạp.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng được pháp luật quy định; Bà Loan vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng, đây là lần thứ hai liên tiếp bà Loan vắng mặt nên việc vắng mặt tại phiên tòa của bà Loan coi như bà Loan đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội đề nghị HĐXX: Không chấp nhận kháng cáo của các đương sự; Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi nghe các bên tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[I]. Về tố tụng:
1.1. Về sự vắng mặt của bà Phan Thị Loan:
Tại phiên tòa ngày 07/9/2023, bà Loan vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do bà bị ốm phải điều trị bệnh. Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 30/11/2023, bà Loan vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bà đang điều trị bệnh tại Bệnh Viện Y học Cổ truyền Bộ Công an và lý do bà chưa được sao chụp hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định tạm ngừng phiên tòa để xác minh tình trạng bệnh của bà Loan.
Tại phiên tòa ngày 18/12/2023, Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa vì xác minh có việc bà Loan điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an vì bệnh Rối loạn tiền đình từ ngày 29/11/2023, chưa ra viện. Quyết định hoãn phiên tòa ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào 14 giờ ngày 08/01/2024.
Mặc dù bà Loan đã được tham gia phiên họp tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ tại cấp sơ thẩm ngày 19/7/2017 và đã được Thẩm phán cấp sơ thẩm công bố toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Tòa án thu thập và các đương sự xuất trình qua các giai đoạn xét xử của Tòa án đến ngày 19/7/2017; bà Loan xác nhận đã được tiếp cận công khai toàn bộ tài liệu, chứng cứ và công nhận những tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán cấp sơ thẩm đã công khai, cho các bên tiếp cận là đúng. Tuy nhiên Tòa án vẫn chấp nhận yêu cầu của bà Loan, thông báo cho bà Loan đến Tòa thực hiện việc sao chụp toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và ngày 26/12/2023, bà Loan đã đến Tòa thực hiện việc sao chụp tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Ngày 04/01/2024 bà Loan có đơn xin hoãn phiên tòa mở vào ngày 08/01/2024 vì lý do bà đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Bộ công an từ ngày 04/01/2024 để điều trị vì bị đau bụng.
Hồi 11 giờ ngày 08/01/2024, Tòa án đã đến Bệnh Viện Y học cổ truyền Bộ Công an để xác minh tình trạng bệnh của bà Loan. Kết quả xác minh thể hiện bà Loan nhập viện hồi 0 giờ 29 phút ngày 04/01/2024 vì lý do đau bụng không rõ nguyên nhân, nhập viện theo dõi rối loạn tiêu hóa và 10 giờ ngày 08/01/2024 đã được bác sỹ chỉ định cho ra viện, tình trạng khi xuất viện: Không nôn, đi ngoài bình thường, tinh thần tỉnh táo, tiếp xúc tốt, đi lại bình thường, các kết quả xét nghiệm đều bình thường, không hoa mắt, chóng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Linh là con gái bà Loan xuất trình đơn xin hoãn phiên tòa mặt của bà Loan và đề nghị hoãn phiên tòa vì lý do bà Loan vào Bệnh viện Bạch Mai để khám bệnh vì lý do đau bụng. Chị Linh xuất trình kết quả siêu âm của bà Loan tại Bệnh viện Bạch Mai, có kết luận bà Loan có nang gan 0,9mm.
Xét thấy: Tình trạng sức khỏe của bà Loan sau khi điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an cho thấy không ảnh hưởng đến việc bà tham gia tố tụng tại phiên tòa. Việc bà Loan ngay sau khi xuất viện tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an đã lập tức vào Bệnh viện Bạch Mai khám bệnh trong tình trạng không phải khám cấp cứu, kết quả siêu âm các chỉ số đều trong giời hạn bình thường, kết luận siêu âm chỉ có hình ảnh nang gan 0,9mm, không có ý kiến của bác sỹ về tình trạng sức khỏe của bà Loan. Như vậy, không có căn cứ để cho rằng việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay của bà Loan vì lý do bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin hoãn phiên tòa của bà Loan và chị Linh, xác định việc bà Loan vắng mặt tại phiên tòa hôm nay coi như đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của bà Loan.
1.2. Về việc vắng mặt của một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Những người này đều không có kháng cáo và đều đã có lời khai tại Tòa án và đều đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa và đều vắng mặt tại phiên tòa từ hai lần trở lên. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.3. Về yêu cầu tham gia tố tụng và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Đức Hùng: Xét thấy, việc giao dịch chuyển nhượng nhà, đất 94 Trần Bình giữa bà Loan và ông Hùng sau khi Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã xét xử sơ thẩm nên ông Hùng không tham gia tố tụng từ giai đoạn sơ thẩm.
Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật tố tụng dân sự thì “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải”.
Do vậy, đơn “Yêu cầu độc lập” Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể đưa ông Hùng tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và thụ lý đơn yêu cầu độc lập của ông Hùng được. Mặt khác, nhà đất 94 Trần Bình chưa được sang tên trước bạ cho ông Hùng, ông Hùng chưa nhận nhà, đất 94 Trần Bình, chưa sử dụng nhà, đất 94 Trần Bình nên việc giải quyết các tranh chấp có liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Loan và ông Hùng không liên quan đến việc giải quyết vụ án. Ông Hùng có thể khởi kiện bằng vụ án khác về các vấn đề tranh chấp có liên quan đến giao dịch chuyển nhượng giữa bà Loan và ông Hùng. Do đó, không chấp nhận yêu cầu được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của ông Hùng.
II. Về nội dung:
2.1. Nhận thấy: Diện tích đất tại số 4- A7 Tập thể Bệnh viện 198 nay là số 94 phố Trần Bình, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nằm trong diện tích đất thuộc quyền quản lý của Tổng cục Hậu cần- Bộ Công an, do Bệnh viện 198 là đơn vị sử dụng. Năm 1987, Bệnh viện 198 phân nhà tập thể cho ông Đỗ Dũng (Phó giám đốc Bệnh viện) làm nhà ở. Ngày 16/01/1992, Bệnh viện 198 đã có Hợp đồng số 56/HĐ bán hóa giá cho ông Đỗ Dũng với diện tích nhà ở cấp 4 là 32m², diện tích xây dựng 60m², trên tổng diện tích đất 141m². Do không có nhu cầu sử dụng, nên ngày 23/8/1992 ông Đỗ Dũng đã lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ nhà đất trên cho ông Lã Văn Hạnh (cán bộ Bệnh viện 198) với giá 15.500.000 đồng (quy đổi thành 2.000USD và 03 cây vàng 98%). Ông Hạnh đã trả đủ tiền mua nhà số 94 Trần Bình cho ông Đỗ Dũng làm 03 lần: Ngày 28/3/1992 giao số tiền 900 USD tiền đặt cọc; Lần 02 vào ngày 04/4/1992 giao 03 cây vàng 98%, lần 03 vào ngày 06/4/1992 giao 1.100USSD. Ông Đỗ Dũng đã bàn giao nhà, đất cho ông Hạnh và ông Hạnh đã cho em trai là ông Toàn sau đó là ông Lượng, ông Thế sử dụng để ở.
Tổng cục Hậu cần- Bộ Công an và Bệnh viện 198 xác nhận: Khi cấp nhà cho cán bộ thì đơn vị quy định không được bán cho người ngoài ngành công an; ông Hạnh là cán bộ Bệnh viện 198 nhận chuyển nhượng của ông Dũng nên Bệnh viện 198 đã có Quyết định 215/QĐ-BV ngày 18/101/1998 giao quyền sử dụng đất từ ông Dũng sang ông Hạnh.
Theo nguyên đơn ông Dũng thì nguồn tiền mua nhà, đất này là do ông Hạnh sử dụng tiền của ông Dũng từ Tiệp Khắc gửi về, mục đích mua nhà để cho ông Dũng khi về nước có chỗ ở và lấy chỗ đi lại cho cả gia đình tại Hà Nội. Năm 2005 ông Dũng về nước và ở cùng ông Toàn tại nhà, đất này; Do ông Hạnh có công sức trong việc mua nhà, đất; ông Toàn có công sức trong việc quản lý, đóng thuế đất nên ngày 08/5/2007 ông cùng ông Hạnh, ông Toàn đã ra Văn phòng Luật sư Thái Hòa để thỏa thuận phân chia nhà, đất theo chiều ngang mặt đường Trần Bình cho ông Toàn và ông Hạnh mỗi người ¼ còn ông Dũng được 2/4. Việc phân chia không thực hiện được do có khiếu nại của bà Loan vợ ông Hạnh. Ông Dũng khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận nhà, đất tại 94 Trần Bình là tài sản riêng của ông.
Bà Loan có đơn phản tố đề nghị Tòa án xác định đất 94 Trần Bình là tài sản riêng của bà và đề nghị Tòa án buộc tất cả những người hiện đang sinh sống tại đây phải giao trả lại nhà, đất cho bà vì cho rằng bà trực tiếp trả tiền và vàng cho bà Ngọc Anh vợ ông Đỗ Dũng; tiền và vàng dùng để mua nhà đất này do bố bà là cụ Tiễu gửi từ Ăng-gô-la về cho bà bằng chứng là trong số tiền 2000 USD trả cho ông Dũng có 1.800USSD là tiền của bố bà gửi về, chỉ có 200 USD là tiền của ông Dũng gửi ông Hạnh trả nợ tiền vay của bà trước đó.
2.2. Xét thấy:
Ông Hạnh là người trược tiếp mua nhà, đứng tên trong giao dịch mua nhà với ông Đỗ Dũng, khi ra Tòa đều có lời khai thống nhất là nguồn tiền dùng để mua nhà là của ông Dũng gửi tiền và hàng hóa từ Tiệp Khắc về cho ông; việc dùng 1.800 USD do bố vợ ông là cụ Tiễu gửi từ Ăng gô la về cho bà Loan vì lý do số tiền của ông Dũng gửi về và số tiền cụ Tiễu gửi về vợ chồng ông để chung 01 tủ. Chưa khi nào ông Hạnh khai mục đích mua nhà đất 94 Trần Bình là mua cho vợ chồng ông hoặc mua cho riêng bà Loan. Thực tế sau khi nhận bàn giao nhà, đất từ ông Đỗ Dũng, vợ chồng con cái ông Hạnh chưa bao giờ sử dụng mà để cho em trai ông Hạnh là ông Toàn sử dụng, sau đó ông Lượng, ông Thế là các người em ông Toàn từ quê ra sử dụng để ở. Ông Hạnh cũng nói với nhiều người ở cơ quan và khai nhận chưa có nhà ở để được cấp nhà đất tại số 35, C1 đường Đồng Bát, phường Mai Dịch. Tất cả các anh, em ông Hạnh là ông Toàn, ông Lượng, ông Thế đều có lời khai thống nhất với lời khai của ông Hạnh và ông Dũng về nguồn tiền mua nhà đất và mục đích mua nhà đất 94 Trần Bình là mua cho ông Dũng từ tiền của ông Dũng gửi ông Hạnh. Ngoài ra, trong quá trình quản lý, sử dụng ông Toàn còn bỏ tiền xây dựng thêm 05 ki ốt bán hàng tại phần đất lưu không sát mương (nay là mặt phố Trần Bình); khi ông Dũng từ Tiệp Khắc trở về Việt Nam cũng về ở tại nhà, đất này. Việc quản lý, sử dụng nhà, đất tại 94 Trần Bình của ông Dũng, ông Toàn, ông Lượng, ông Thế tại 94 Trần Bình không xảy ra tranh chấp với bà Loan, ông Hạnh suốt từ năm 1992 đến trước thời điểm ông Toàn xây móng nhà theo thỏa thuận phân chia đất ngày 08/5/2007 tại Văn phòng Luật sư Thái Hòa. Việc thỏa thuận phân chia nhà, đất ngày 08/5/2007 tại Văn phòng Luật sư Thái Hòa theo sự xác nhận của ông Hạnh, ông Dũng, ông Toàn tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi người, cụ thể ông Dũng là người bỏ tiền mua, ông Hạnh là người có công sức mua, ông Toàn là người có công sức trông nom, gìn giữ, đóng thuế và xây ki ốt.
Đối với các chứng cứ bà Loan đưa ra: Ngoài việc có 1.800USD trong số tiền 2.000 USD trả ông Đỗ Dũng mà ông Hạnh trả cho ông Đỗ Dũng có số sê-ri trùng với số sê-ri tiền cụ Tiễu gửi về cho bà Loan ra thì bà Loan không có chứng cứ nào khác để cho rằng mục đích việc ông Hạnh đứng tên mua nhà, đất 94 Trần Bình là mua cho cá nhân bà Loan, là tài sản riêng của bà Loan.
Cụ Tiễu bố bà Loan có lời khai không thống nhất giữa số tiền cụ gửi về cho bà Loan và số tiền cho riêng bà Loan để mua nhà 94 Trần Bình: Có lúc cụ khai cho riêng bà Loan số tiền 2000 USD và 03 cây vàng để mua nhà 94 Trần Bình, có lúc cụ khai trong thời gian cụ làm chuyên gia tại Ăng- gô- la từ 1989-1992 có gửi về cho bà Loan 04 lần tiền tổng cộng là 15.800 USD mục đích để bà Loan gửi về cho mẹ là cụ Đào Thị Thoi chi tiêu; năm 1992 cụ về nước không thấy bà Loan gửi tiền cho cụ Thoi nên cụ có đòi lại toàn bộ số tiền cụ đã gửi cho bà Loan và năm 2001 ông Hạnh cùng 01 người bạn đồng nghiệp về trả cho cụ Tiễu số tiền 15.000 USD; cuối năm 2001 bà Loan lại vay lại số tiền này và đến nay cụ xác định vợ chồng ông Hạnh, bà Loan vay của cụ 15.000 USD chưa trả. Như vậy, việc cụ Tiễu khai cho bà Loan 2000 USD và 3 cây vàng để mua nhà 94 Trần Bình là không có cơ sở vì nếu cụ cho bà Loan số tiền này thì cụ không thể đòi bà Loan, ông Hạnh trả đủ số tiền 15.000 USD được và ông Hạnh không phải trả cho cụ 15.000 USD vào năm 2001.
Như vậy, có căn cứ xác định: Nhà đất 94 Trần Bình được mua bằng tiền và vàng do ông Dũng gửi tiền và hàng hóa từ Tiệp Khắc về cho ông Hạnh, mục đích của việc ông Hạnh đứng tên mua nhà này là mua cho ông Dũng; không có căn cứ xác định nhà đất 94 Trần Bình là tài sản riêng của bà Loan.
Tuy nhiên, vợ chồng ông Hạnh bà Loan là người có công sức trong việc tìm và giao dịch mua nhà, ông Toàn là người có công sức trông nom, gìn giữ, tôn tạo, đóng thuế đất nên cần đánh giá công sức cho vợ chồng ông Hạnh bà Loan và ông Toàn một cách hợp lý. Việc thỏa thuận phân chia nhà, đất ngày 08/5/2007 tại Văn phòng Luật sư Thái cho ông Hạnh, ông Dũng, ông Toàn là hợp tình hợp lý.
Bản án sơ thẩm chia cho ông Toàn diện tích đất ông Toàn đã làm móng nhà, chia cho ông Dũng phần đất trên có nhà cấp 4 cũ, phần còn lại chia cho vợ chồng ông Hạnh, bà Loan là chưa hợp lý và trên sơ đồ phân chia cũng không thể hiện diện tích cụ thể mà mỗi người được chia và không thể hiện số đo các chiều của diện tích đất mỗi người được chia sẽ gây khó khăn trong quá trình thi hành án. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Dũng, sửa bản án sơ thẩm, phân chia lại quyền sở hữu, sử dụng nhà đất 94 Trần Bình như sau:
- - Chia cho ông Toàn phần diện tích đất ông Toàn đã làm móng nhà và đổ cột có diện tích là: 31,8m² trị giá 2.385.000.000₫ và tạm giao cho ông Toàn diện tích đất lưu không phía trước phần đất ông Toàn được chia là 16,1m².
- - Chia cho ông Hạnh, bà Loan phần diện tích đất 37m² tiếp giáp phần đất chia cho ông Toàn, trên có nhà tạm, 1 phần nhà vệ sinh và 1 phần sân, có trị giá 2.775.000.000đ và tạm giao cho ông Hạnh, bà Loan phần đất lưu không phía trước phần đất ông Hạnh bà Loan được chia là 15,1m².
- - Chia cho ông Dũng phần diện tích đất 72.3m² tiếp giáp phần diện tích đất chia cho ông Hạnh, bà Loan, trên có nhà cấp bốn 38,438m², 1 phần sân và 1 phần nhà vệ sinh, có trị giá 5.422.500.000đ và tạm giaocho ông Dũng phần đất lưu không phía trước phần đất ông Dũng được chia là 25,9m².
Phần đất lưu không các đương sự được tạm giao quyền sử dụng thì người được tạm giao sử dụng có trách nhiệm chấp hành mọi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Phần công trình xây dựng trên phần đất chia cho ai người ấy được quyền sở hữu, sử dụng. Không ai phải thanh toán chênh lệch cho ai.
2.3. Bà Loan có yêu cầu đòi lại toàn bộ nhà, đất 94 Trần Bình vì cho rằng nhà, đất này là của riêng bà. Tuy nhiên, như trên nhận định, nhà đất 94 Trần Bình được xác định là tài sản chung của ông Dũng, ông Toàn và vợ chồng ông Hạnh bà Loan nên bà Loan chỉ được đòi lại phần của bà. Tuy nhiên, bà Loan và ông Hạnh không yêu cầu phân chia tài sản chung vợ chồng nên những người đang quản lý, sử dụng phần nhà, đất chia cho ông Hạnh bà Loan là vợ chồng ông Lượng, bà Hiền và ông Bộ, bà Yến phải có trách nhiệm bàn giao lại nhà, đất cho ông Hạnh, bà Loan cũng như bàn giao lại phần nhà, đất mà ông Dũng, ông Toàn được phân chia theo quyết định bản án.
[III]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo kỷ phần đất được chia; đương sự là người cao tuổi và có yêu cầu xin miễn án phí sẽ được miễn án phí.
Cụ thể: Ông Hạnh, bà Loan được miễn án phí;
Ông Toàn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 79.700.000đ;
Ông Dũng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 113.422.500đ.
[IV]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị sửa nên người kháng cáo là ông Dũng và bà Loan không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DSST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy. Cụ thể:
- - Căn cứ điều 169, 170,183, 185, 186, 194, 198, 214, 216, 219, 224 Bộ luật dân sự năm 2005
- - Căn cứ khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử :
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lã Văn Dũng.
1.1. Xác định quyền sở hữu 38,438m² nhà và quyền sử dụng diện tích 141m² đất tại nhà đất số 94 phố Trần Bình, tổ 47 (nay là tổ 27), phường Mai dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là tài sản chung của các ông, bà: Lã Văn Dũng, Lã Mạnh Toàn, Lã Văn Hạnh và Phan Thị Loan.
1.2. Phân chia quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại nhà đất số 94 phố Trần Bình, tổ 47 (nay là tổ 27) phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội như sau: (có sơ đồ kèm theo)
- - Chia cho ông Toàn phần diện tích đất ông Toàn đã làm móng nhà và đổ cột có diện tích là: 31,8m² (giới hạn bởi các điểm 2,3,4,5,6,2 trên sơ đồ kèm theo bản án) có giá trị là 2.385.000.000 đồng.
- Tạm giao cho ông Toàn tiếp tục sử dụng phần đất lưu không phía trước là 16,1m² (giới hạn bởi các điểm 2,5,6,7,8,2 trên sơ đồ kèm theo bản án) cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- - Chia cho ông Hạnh, bà Loan phần diện tích đất 37m² tiếp giáp phần đất chia cho ông Toàn, trên có Loan nhà tạm, 1 phần nhà vệ sinh và 1 phần sân (giới hạn bởi các điểm 1,2,3,18,1 trên sơ đồ kèm theo bản án), có trị giá đất là 2.775.000.000đ.
- Tạm giao cho ông Hạnh, bà Loan sử dụng phần đất lưu không phía trước là 15,1m² (giới hạn bởi các điểm 1,2,8,9,1 trên sơ đồ kèm theo bản án) cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- - Chia cho ông Dũng phần diện tích đất còn lại là 72,3m² trên có nhà cấp bốn 38,438m², một phần sân và một phần nhà vệ sinh (giới hạn bởi các điểm 1,11,12,13,14,15,16,17,18,1 trên sơ đồ kèm theo bản án) trị giá 5.422.500.000đ.
- Tạm giao cho ông Dũng tiếp tục sử dụng phần đất lưu không phía trước là 25,9m² (giới hạn bởi các điểm 1,9,10,11,1 trên sơ đồ kèm theo bản án) cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
2. Phần đất lưu không các đương sự được giao tạm sử dụng phải chấp hành mọi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
3. Phần công trình xây dựng trên phần đất chia cho ai người ấy được quyền sở hữu, sử dụng.
Ông Dũng, ông Hạnh, bà Loan không phải thanh toán trị giá ki-ot trên phần đất lưu không được tạm giao cho ông Toàn.
4. Ông Lã Văn Hạnh, bà Phan Thị Loan và ông Lã Văn Dũng, ông Lã Mạnh Toàn có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sở hữu, sử dụng nhà đất được chia theo quy định pháp luật.
5. Ông Hoàng Lương Bộ, bà Hoàng Thị Hải Yến, ông Lã Văn Lượng, bà Nguyễn Thị Hiền có trách nhiệm giao trả phần nhà, đất ông Dũng và vợ chồng ông Hạnh, bà Loan được chia theo quyết định bản án.
5. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
6.1. Ông Lã Văn Dũng phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 113.422.500 đồng, được trừ vào 200.000đ tiền tạm ứng án phí ông đã nộp theo Biên lai thu số 8607 ngày 25/10/2010 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy; số tiền án phí còn lại là 113.222.500 đồng ông Dũng có trách nhiệm nộp tiếp.
6.2. Ông Lã Mạnh Toàn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 79.700.000 đồng.
6.3. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lã Văn Hạnh và bà Phan Thị Loan;
6.4. Bà Phan Thị Loan được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 59.409.000 đồng theo Biên lai thu số 0000837 ngày 27/7/2016.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dũng, bà Loan không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bà Loan được hoàn lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại BL số 0005916 ngày 16/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
Ông Dũng được hoàn lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại BL số 0005895 ngày 10/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật để thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy |
Bản án số 08/2024/DS-PT ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
- Số bản án: 08/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
