Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 01 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa. Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.
  • Các Hội thẩm nhân dân. Ông Nguyễn Xuân Lập và bà Lê Thị Xuân Hương (Là Giáo viên).
  • Thư ký phiên tòa. Ông Phạm Anh Tuấn - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Hạ Long.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa. Ông Trần Anh Linh - kiểm sát viên.

Ngày 08/01/2024, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 288/2023/HSST ngày 30/11/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 311/2023/QĐXXST-HS ngày 25/12/2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Ngọc Th, sinh ngày 30/01/2008, tại tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: Tổ 3, khu 4, phường T, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Học sinh. Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Con ông Trần Văn S, sinh năm 1975 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1981. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 16/7/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
  2. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo. Ông Trần Văn S, sinh năm 1975 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1981 (là bố, mẹ ruột của bị cáo). Nơi thường trú: Tổ 3, khu 4, phường T, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; ông S vắng mặt, bà T có mặt.

  3. Họ và tên: Đỗ Trung D, sinh ngày 21/10/2006. Nơi thường trú: Tổ 10, khu 7, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 10/12. Con ông Đỗ Văn C, sinh năm 1986 và bà Lê Thị L, sinh năm 1987. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ra đầu thú ngày 17/7/2023. Bị áp dụng biện pháp: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 21/7/2023 đến ngày 25/12/2023 bị bắt tạm giữ về hành vi Cố ý gây thương tích cho người khác. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
  4. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1986 và bà Lê Thị L sinh năm 1987 (là bố, mẹ ruột của bị cáo). Nơi thường trú: Tổ 10, khu 7, phường C, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.; ông C có mặt, bà L vắng mặt.

Bị hại: Cháu Ngô Đức M, sinh ngày 17/02/2008. Nơi thường trú: Tổ 6, khu 5, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1977 (Là mẹ ruột của cháu M). Nơi thường trú: Tổ 6, khu 5, phường Y, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

  1. Chị Ngô Huyền Tr, sinh năm 2002. Nơi thường trú: Tổ 1, khu 8, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Anh Đoàn Đức T2, sinh năm 2002. Nơi thường trú: Tổ 1, khu 3, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Đại diện Trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh (nơi bị cáo Trần Ngọc Th đang học tập): Ông Trương - Chức vụ: Phó Giám đốc, có mặt.

Người làm chứng:

  1. Cháu Lê Gia H, sinh năm 2009. Nơi thường trú: Thôn X, xã Thống Nhất, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt
  2. Người đại diện theo pháp luật của cháu Lê Gia H: Ông Lê Anh H. Nơi thường trú: Thôn X, xã Thống Nhất, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc Th (15 tuổi 5 tháng 16 ngày) là bạn bè xã hội với Đỗ Trung D (16 tuổi 8 tháng 25 ngày). Khoảng 20 giờ ngày 15/7/2023, tại quán điện tử MOM ở phố Giếng Đồn, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên Th rủ D đi cướp giật tài sản. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát (BKS) 14B1-338.81 của bà Hoàng Thị Thuý (mẹ của Th) chở theo Th đi từ đường Thành Công về phía ngã tư Loong Toong, thành phố Hạ Long với tốc độ chậm để vừa đi vừa quan sát xem có ai sơ hở sẽ cướp giật tài sản. Khi đi đến khu vực Cầu 1, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, D và Th thấy xe mô tô Honda Lead BKS 14B1-639.07 do chị Ngô Huyền Tr điều khiển chở theo cháu Ngô Đức M (Sinh ngày 17/02/2008, 15 tuổi, 4 tháng, 29 ngày) ngồi sau, lúc này cháu M đang cầm 01 chiếc điện thoại Iphone XSMax màu đen của chị Trang ở tay trái dưới đùi. Thấy vậy, D nói với Th "Có máy kia", Th hiểu ý là sẽ cướp giật chiếc điện thoại từ tay cháu M. D điều khiển xe mô tô đi chậm theo xe mô tô của chị Trang, khi đến khu vực thuộc tổ 6, khu 2, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, D quan sát thấy đường vắng, không có ai nên đã điều khiển xe mô tô phóng nhanh áp sát vào bên trái xe mô tô của chị Trang, Th nhanh chóng dùng tay phải giật nhanh, M chiếc điện thoại trên tay trái cháu M. Th bảo D "Đóng đi", D ngay lập tức điều khiển xe mô tô tốc độ cao bỏ chạy về phía phường Yết Kiêu - Cao Xanh, chị Trang điều khiển xe mô tô đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Sau đó, D và Th thay quần áo chuẩn bị từ trước, D để quần áo ở khe tường gần nhà của D tại phường Cao Xanh, còn Th để ở công viên Lán Bè (không rõ địa điểm). Sau đó, D và Th đến khu vực thuộc tổ 3, khu 7, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long cất giấu chiếc điện thoại vừa cướp giật được ở dưới chân tủ điện bên đường.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Th và D đến công viên Lán Bè, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long để uống nước thì gặp cháu Lê Gia Huy (Sinh ngày 15/3/2009, 14 tuổi 4 tháng 1 ngày). Tại đây Th rủ D đi bán điện thoại nhưng D nói không đi nên Th rủ Huy "Đi cùng tao ra đây một từ", thì Huy đồng ý. Sau đó, Th bảo Huy điều khiển xe mô tô chở Th đến vị trí cất giấu chiếc điện thoại trước đó rồi bảo Huy đợi cách khoảng 10m, còn Th đi bộ vào lấy chiếc điện thoại, khi lấy được điện thoại Th không nói cho Huy biết. Sau đó Th bảo Huy chở đến cửa hàng Trung Hiếu Apple, địa chỉ tại tổ 45, khu 5, phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long của anh Đoàn Đức T2 thì Th bảo Huy dừng xe, đứng ngoài đợi rồi một mình Th vào bán chiếc điện thoại trên được 1.500.000đồng, khi bán Th không nói cho anh Trung biết đây là điện thoại do trộm cắp được. Sau đó, Huy chở Th về gặp D, Th nói với D bán điện thoại được 1.000.000₫ và đưa D 500.000đ, số tiền trên Th và D đã chi tiêu hết.

Ngày 16/7/2023 chị Ngô Huyền Tr đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long trình báo. Cùng ngày 16 và ngày 17/7/2023, Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đầu thú khai nhận như nội dung trên và giao nộp 01 áo thun dài tay màu đen có khóa kéo, có mũ, in họa tiết và chữ Chanel; 01 quần đùi màu trắng của D. Anh Trung giao 01 máy Iphone XS Max màu đen cho Cơ quan điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 134 ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax nêu trên trị giá: 7.920.000₫ (Bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng). (Bút lục số 35, 36).

Quá trình điều tra, Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án, ngoài ra còn khai: Th và D không nói cho Huy biết về việc cướp giật chiếc điện thoại, khi Th rủ D đi bán điện thoại, Huy không nghe thấy, Th nhờ Huy chở đến chỗ lấy điện thoại cũng không nói cho Huy biết đi đâu, làm gì. (Bút lục số: 127 - 184).

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc Iphone XSMax màu đen cho chị Trang; 01 áo thun dài tay màu đen có khóa kéo, có mũ, in họa tiết và chữ Chanel; 01 quần đùi màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 14B1-338.81 chuyển Chi cục thi hành án dân sự. (Bút lục số: 107, 129, 164).

Về bồi thường dân sự: Chị Ngô Huyền Tr đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động nên chị Trang và cháu Ngô Đức M, không có yêu cầu đề nghị gì về vấn đề bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D. Anh Đoàn Đức T2 yêu cầu Th trả lại số tiền 1.500.000đ đồng (Bút lục số 105, 107, 117). Các bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại về tinh thần số tiền 1.000.000 đồng cho bị hại và trả cho anh Đoàn Đức T2 tiền bán chiếc điện thoại là 1.500.000 đồng. Bị hại và anh Trung không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D có lời khai giống với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Lời khai của bị hại cháu Ngô Đức M và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Ngô Huyền Tr: Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 15/7/2023, chị Trang điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Lead, BKS 14B1-639.07 chở theo em trai là cháu Ngô Đức M đi trên đường Trần Phú, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long. Khi đi qua ngã tư Loong Toòng hướng về cầu Bãi Cháy, chị Trang đi sát vào phía bên phải đường, đến đoạn điểm đón xe buýt thì có 02 người thanh niên điều khiển 01 chiếc xe mô tô (không nhớ rõ loại xe) màu đỏ - đen đi từ phía sau áp sát xe của chị Trang. Người thanh niên ngồi sau dùng tay phải giật một chiếc điện thoại di động trên tay của cháu M, rồi hai người này bỏ chạy về hướng phường Yết Kiêu. Chị Trang đuổi theo một đoạn thì mất dấu họ. Cháu M kể lại là hai người thanh niên này đi theo chị Trang và cháu M từ đoạn ngõ 10 Cao Xanh đến địa điểm nói trên thì họ giật chiếc điện thoại của chị Trang (bút lục số 99 - 101)

Anh Đoàn Đức T2 khai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, anh đang ở cửa hàng điện thoại của anh có địa chỉ tại tổ 46, khu 5, phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long (lúc này đã đóng cửa) thì có một nam thanh niên gọi cửa để hỏi bán điện thoại. Khi anh mở cửa thì lúc này người thanh niên đưa cho anh 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, không có mặt khẩu máy và nói muốn bán. Anh xem qua rồi thoả thuận mua chiếc điện thoại với giá 1.500.000 đồng thì nam thanh niên đồng ý. Sau khi anh đưa tiền cho người thanh niên trên xong thì anh đóng cửa đi ngủ, còn người thanh niên đi đâu anh không được biết. Sau khi lực lượng công an kiểm tra thì anh mới biết chiếc điện thoại này là vật chứng trong vụ án (bút lục số 119)

Lời khai của người làm chứng cháu Lê Gia Huy: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, cháu sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, chưa đăng ký biển số của bố cháu để đi chơi với các bạn. Khi cháu đang đi ở đoạn bờ hồ Yết Kiêu thì thấy có một xe mô tô phóng nhanh đi qua, cháu nhận ra người ngồi sau là bạn cháu tên là Trần Ngọc Th. Xe của Th đuổi theo một chiếc xe mô tô khác (loại xe ga) người cầm lái là phụ nữ. Cháu không đi theo mà quay về Công viên Lán Bè để ngồi nói chuyện với các bạn. Khoảng 01 tiếng sau có Đỗ Trung D, cũng là bạn chơi với cháu điều khiển xe mô tô Hoda Wave màu đỏ - đen của Th chở theo Th ngồi sau đến. Th nhờ cháu: “đi ra đây với tao có việc”, cháu đồng ý và chở Th đi bằng xe của cháu. Th chỉ đường cho cháu đi đến đoạn đường bao biển thuộc phường Cao Xanh, rồi bảo cháu dừng xe bên đường. Th xuống xe đi vào một bãi đất có nhiều cỏ rậm, ngồi ở đó một lát rồi ra xe bảo cháu chờ đến quán điện thoại Trung Hiếu ở phường Cao Thắng để bán điện thoại. Khi đến nơi, Th vào trong còn cháu Huy đứng ngoài. Khoảng 15 phút sau Th đi ra và cả hai cùng đi về Công viên Lán Bè. Trên đường về, Th kể với cháu rằng Th đã bán được 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max với giá 1.000.000 đồng. Th không nói cho cháu biết chiếc điện thoại vừa bán là do chiếm đoạt mà có (bút lục số 122).

Chị Hoàng Thị Thuý khai: Chị là mẹ ruột của bị cáo Th. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hoda Wave RSX, BKS 14B1-338.81 là của chị, do chị mua từ năm 2015 làm phương tiện đi lại. Vào ngày 15/7/2023, Th lấy xe của chị để đi chơi, chị không biết bị cáo dùng xe đi đâu. Sau đó Th mang xe về trả chị, không nói với chị là đã sử dụng xe làm gì. Sau này chị mới được biết Th sử dụng xe để đi cướp giật tài sản (bút lục số 124).

Bản Cáo trạng số 287/CT-VKSHL ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, g khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Th từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58;Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Trung D từ 27 đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

Về xử lý vật chứng: Trả lại chị Hoàng Thị Thuý 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ - trắng, BKS 14B1-338.81. Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo thun dài tay; 01 (một) quần đùi màu trắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, các bị cáo Trần Ngọc Th, Đỗ Trung D và những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo; bị hại cháu Ngô Đức M và người đại diện theo pháp luật có quan điểm không nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo và bị hại và cũng không đề nghị Tòa án yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo và bị hại. Những người đại diện theo pháp luật của bị cáo, bị hại có quan điểm: Việc các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D thừa nhận hành vi các bị cáo đã thực hiện vào ngày 15/7/2023 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm các bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản; phù hợp với các tài liệu: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường (bút lục số 46-58); bản ảnh hiện trường (bút lục số 59-66); bản ảnh vật chứng (bút lục số 94-97); biên bản nhận dạng (bút lục số 73-78) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Các Bị cáo khẳng định việc truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai.

Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, tại khu vực tổ 6, khu 2, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Đỗ Trung D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 14B1-338.81 chở Trần Ngọc Th ngồi sau phóng nhanh áp sát vào bên trái xe mô tô Honda Lead BKS 14B1-639.07 do chị Ngô Huyền Tr điều khiển chở theo cháu Ngô Đức M (sinh năm 2008), Th dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, trị giá 7.920.000₫ (Bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) trên tay trái cháu M, rồi D nhanh chóng điều khiển xe mô tô chở Th bỏ chạy.

Hành vi của các bị cáo Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại các điểm d (dùng thủ đoạn nguy hiểm) và g (phạm tội đối với người dưới 16 tuổi) khoản 2, Điều 171 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật nhà nước ta bảo vệ. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích chiếm đoạt được tài sản bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[5] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Th là người khởi xướng, rủ bị cáo D đi cướp giật tài sản. Bị cáo D tiếp nhận ý chí từ bị cáo Th; sau đó cả hai cùng tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo Th là người mang đi tiêu thụ, được tiền chia cho bị cáo D và cả hai đã ăn tiêu hết. Vì vậy, bị cáo Th có vai trò cao hơn bị cáo D.

[6] Bị cáo Th phạm tội trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Bị cáo D phạm tội trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên xem xét mức hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại Điều 101 Bộ luật hình sự.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú; thành khẩn khai báo, năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[9] Xét bị cáo Th có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội; cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội. Bị cáo D trong khi đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” về hành vi cướp giật tài sản, đã tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác (Cố ý gây thương tích) và đã bị bắt tạm giam để điều tra, vì vậy không được hưởng án treo.

[10] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc Iphone XSMax màu đen cho chị Trang là đảm bảo, không đề cập xem xét. 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ - trắng, BKS 14B1-338.81 là tài sản của chị Hoàng Thị Thuý (mẹ bị cáo Th). Quá trình điều tra xác định được chị Thuý không biết Th sử dụng xe vào việc phạm tội nên trả lại cho chị Thuý. 01 (một) chiếc áo thun dài tay; 01 quần đùi màu trắng là những vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Đức T2 hông có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đê cập xem xét.

[12] Đối với cháu Lê Gia Huy, không biết việc Th và D cướp giật chiếc điện thoại, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Đoàn Đức T2 là chủ cửa hàng điện thoại mua chiếc điện thoại của Trần Ngọc Th, nhưng không biết là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ xử lý.

[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[14] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Ngọc Th và Đỗ Trung D phạm tội: “Cướp giật tài sản”

Căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Th 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Trung D 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt: 25/12/2023.

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2; khaonr 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại chị Hoàng Thị Thuý 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ - trắng, BKS 14B1-338.81

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc áo thun dài tay; 01 (một) chiếc quần đùi màu trắng

(Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 80/BB-THA ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết quy định về án phí, lệ phí tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo; người đại diện theo pháp luật của bị cáo; bị hại; người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hạ Long;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQ CSĐT-Công an TP Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo; bị hại; người đại diện theo pháp luật của
  • bị hại; người có QLVNVLQ;
  • - Trại tạm giam;
  • - CQ THAHS-Công an TP Hạ Long;
  • - THADS thành phố Hạ Long;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Giang Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 08/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger