Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 07 - 6 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phương Dung.
Các Hội thẩm nhân dân. - Bà Nguyễn Thụy Thu Thủy;
- Ông Dương Văn Nhuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Mười - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 06/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST – HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số A H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Phi Q, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ghi ngày 15 tháng 01 năm 2024; đơn trình bày ngày 22 tháng 01 năm 2024; bản tự khai và biên bản lấy lời khai của chị Nguyễn Thị Á trình bày: Chị và anh Lê Phi Q kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện; sau khi kết hôn không bao lâu thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hợp nhau về tính cách và quan điểm sống, vợ chồng chị đã sống ly thân; đến nay mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh Q có một người con chung, tên là Lê Vy Quỳnh C, sinh ngày: 30/11/2018. Hiện tại cháu đang ở với chị; chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi và chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với anh Lê Phi Q: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho anh Q theo địa chỉ nơi anh Q cư trú. Tuy nhiên, anh Q không đến Toà án làm việc nên không có được lời trình bày của anh Q trong hồ sơ vụ án.

Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Q biết, để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đồng thời Toà án cũng không tiến hành hoà giải được, với lý do: Anh Q vắng mặt.

Tại Phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai của Toà án; còn bị đơn thì vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có ý kiến gì.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị Á được ly hôn với anh Lê Phi Q.

Về con chung: Giao con chung là Lê Vy Quỳnh C, sinh ngày: 30/11/2018 cho chị Nguyễn Thị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Phi Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Á phải chịu tiền án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Á đối với anh Lê Phi Q là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Bị đơn là anh Lê Phi Q cư trú tại huyện L (theo kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt nhưng Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 17 tháng 5 năm 2018 của UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Á và anh Lê Phi Q là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Á: Theo kết quả xác minh của Toà án về nơi cư trú của anh Q tại Công an thị trấn L, huyện L, tổ trưởng tổ dân phố Đ thì: Anh Lê Phi Q đăng ký thường trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Chị Á xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là không hợp nhau về tính cách và quan điểm sống; năm 2023 chị đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Q, sau đó chị đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã đình chỉ việc giải quyết vụ án; sau khi Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án thì tình cảm giữa chị và anh Q không được cải thiện, vợ chồng vẫn sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa, thỉnh thoảng anh Q có liên lạc hỏi thăm con cái.

Xét thấy, mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị Á và anh Q đã trầm trọng, chị Á cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở để xem xét.

[4]. Về con chung: Theo chị Á trình bày, chị và anh Q có một người con chung, tên là Lê Vy Quỳnh C, sinh ngày 30/11/2018. Hiện tại cháu đang ở với chị Á, chị Á có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi và chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên cần giao con chung cho chị Á nuôi dưỡng là phù hợp.

[5]. Về tài sản chung: Chị Á xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không có yêu cầu; về phía anh Q, không có lời khai nên Hội Đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về nợ chung: Chị Á xác định vợ chồng không có nợ chung nên không có yêu cầu; về phía anh Q, không có lời khai nên Hội Đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Á phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các điều 51, 56, 57 và 58 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Á: Chị Nguyễn Thị Á và anh Lê Phi Q, được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Vy Quỳnh C, sinh ngày 30/11/2018 cho chị Nguyễn Thị Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con trưởng thành. Anh Lê Phi Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Á phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Á đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002032 ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương (chị Á đã nộp đủ).

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lạc Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Dương;
  • - UBND TT Lạc Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV; HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Phương Dung

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ - ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Á - Lê Phi Q (ly hôn)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger