|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/KDTM-ST Ngày: 07/5/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Trần Văn Hổ
- Ông: Trịnh Ngọc Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp – Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H (viết tắt: H1).
- Địa chỉ: B B, đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Quách Văn H - Chức vụ: Trưởng xử lý nợ.
- Địa chỉ: Số F, P, phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Bị đơn: Hợp tác xã T2.
- Địa chỉ: Số B, đường N, khu phố B, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt A – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc. Địa chỉ: Số A, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Ngọc Nhật K, sinh năm 1993.
- Địa chỉ: Số H, ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên toà : ông H, ông K có mặt, ông A vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 21/12/2023 của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Quách Văn H trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H (viết tắt là H1) đã có ký hợp đồng cho Hợp tác xã T2 vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 8601/23MN/HĐTD ngày 06/4/2023. Nội dung thỏa thuận: số tiền cho vay 4.400.000.000 đồng, lãi suất trong hạn được quy định trong từng khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi 10%/năm và được điều chỉnh từng thời kỳ, mục đích vay bổ sung vốn lưu động để chế biến kinh doanh thủy hải sản, nông sản và rau quả các loại, thời hạn vay đến ngày 06/4/2026, phương thức thanh toán: trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi vào ngày 16 hàng tháng.
Thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân cho Hợp tác xã T2 số tiền như sau:
- + Giải ngân 1.300.000.000 đồng vào ngày 07/4/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 07/4/2023 lãi suất trong hạn 12%/năm,
- + Giải ngân số tiền 1.350.000.000 đồng vào ngày 08/5/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 08/5/2023 lãi suất trong hạn 12%/năm,
- + Giải ngân số tiền 1.250.000.000 đồng vào ngày 08/5/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN03 ngày 08/5/2023 lãi suất trong hạn 12%/năm,
- + Giải ngân số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 09/5/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN04 ngày 09/5/2023 lãi suất trong hạn 12%/năm.
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên, hai bên có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 30504/20MN/HĐBĐ ngày 16/12/2020. Hợp đồng được công chứng ngày 16/12/2020 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1 và đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 16/12/2020 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B. Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL01 ngày 21/12/2021, được công chứng ngày 21/12/2021 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL02 ngày 06/4/2023, được công chứng ngày 06/4/2023 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1.
Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số 01 phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 154227, số vào sổ cấp GCN: CH01617 do Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố B cấp ngày 17/01/2013 do ông Nguyễn Ngọc Nhật K đứng tên người sử dụng đất.
Trong quá trình vay, Hợp tác xã T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến ngày 27/9/2023 với số tiền đã trả 45.531.726 đồng thì vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 30/10/2023, Hợp tác xã T2 còn nợ ngân hàng số tiền cụ thể là 4.448.678.505 đồng.
Trong đó: Gốc: 4.400.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 35.623.938 đồng; Lãi quá hạn: 13.054.567 đồng;
Nhận thấy Hợp tác xã T2 đã vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký với H1. Vì vậy, H1 tiến hành khởi kiện yêu cầu như sau:
- Buộc Hợp tác xã T2 phải thanh toán ngay một lần toàn bộ nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/10/2023 cho H1 theo hợp đồng tín dụng nêu trên với tổng số tiền là 4.448.678.505 đồng. Trong đó: Gốc: 4.400.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 35.623.938 đồng; Lãi quá hạn: 13.054.567 đồng;
- Buộc Hợp tác xã T2 phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với H1 từ ngày 31/10/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp Hợp tác xã T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H1, đề nghị phát mãi tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số 30504/20MN/HĐBĐ ngày 16/12/2020, hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL01 ngày 21/12/2021 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL02 ngày 06/4/2023 giữa ông Nguyễn Ngọc Nhật K với H1 - Chi nhánh B. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của Hợp tác xã T2 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của Hợp tác xã T2 tại H1, thì Hợp tác xã T2 phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 28, Tờ bản đồ số 01 diện tích 2.663,2m² tại phường P, TP ., tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 154227, số vào sổ cấp GCN: CH01617 do Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố B cấp ngày 17/01/2013 cho ông Nguyễn Ngọc Nhật K đứng tên người sử dụng.
Tại phiên tòa, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Hợp tác xã T2 trả tiền vố và tiền lãi tính đến ngày xét xử là ngày 07/5/2024 với tổng số tiền là 4.867.431.558 đồng. Trong đó: Số tiền gốc: 4.399.999.825 đồng; Lãi trong hạn: 58.245.856 đồng; Lãi quá hạn: 405.822.009 đồng; Lãi chậm trả lãi 3.363.868 đồng.
Đồng thời yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 08/5/2024 đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
* Đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã T2 là ông Nguyễn Việt A: Vắng mặt.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc N K trình bày:
Ông có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác, hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ ngày 16/12/2020, hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL01 ngày 21/12/2021 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL02 ngày 06/4/2023 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh B để bảo lãnh khoản nợ vay cho Hợp tác xã T2 (do ông Nguyễn Việt A là người đại diện theo pháp luật) vay tiền của H1 theo Hợp đồng tín dụng số 8601/23MN/HĐTD ngày 06/4/2023 giữa Hợp tác xã T2 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh B vay số tiền 4.400.000.000 đồng. Thửa đất ông thế chấp cho Ngân hàng là thửa số 28, tờ bản đồ số 01 tại phường P, thành phố B do ông Nguyễn Ngọc Nhật K đứng tên quyền sử dụng đất. Hiện phần đất trên vẫn còn đất ruộng, chỉ có cây cỏ tạp không có nhà công trình kiến trúc trên đất. Nay, phía Hợp tác xã T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ định kỳ nên Ngân hàng khởi kiện. Ông đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho Hợp tác xã T2 theo quy định của pháp luật và không có yêu cầu gì khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng người đại diện theo pháp luật của bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án là chưa đúng quy định tại Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H buộc Hợp tác xã T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay và lãi phát sinh tính đến ngày 07/5/2024 và tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo hợp đồng đã ký kết.
Trường hợp Hợp tác xã T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H1, đề nghị phát mãi tài sản đã thế chấp tại H1, toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Hợp tác xã T2 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của Hợp tác xã T2 tại H1, thì Hợp tác xã phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng nên được hoàn lại số tiền tạm ứng đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các đương sự phát biểu tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án đối với người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã T2 là ông Nguyễn Việt A, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông A vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo luật định.
Tòa án đã tiến hành việc cấp tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai cho ông Nguyễn Việt A để đưa vụ kiện ra xét xử nhưng ông A vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng đã ký giữa các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn là Hợp tác xã T2 có địa chỉ trụ sở làm việc và nơi tài sản thế chấp tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu trả nợ của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H đối với bị đơn là Hợp tác xã T2: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tổng số tiền nợ gốc và lãi vay của Hợp đồng tín dụng số 8601/23MN/HĐTD ngày 06/4/2023. Tạm tính đến ngày 07/5/2024 là: 4.867.431.558 đồng. Trong đó: Số tiền gốc: 4.399.999.825 đồng; Lãi trong hạn: 58.245.856 đồng; Lãi quá hạn: 405.822.009 đồng; Lãi chậm trả lãi 3.363.868 đồng.
Căn cứ lời khai của các đương sự trong vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ thể hiện: Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H có quan hệ tín dụng với
Hợp tác xã T2 thông qua Hợp đồng tín dụng số 8601/23MN/HĐTD ngày 06/4/2023 để vay tổng số tiền vay là: Nội dung thỏa thuận: số tiền cho vay 4.400.000.000 đồng, lãi suất trong hạn được quy định trong từng khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi 10%/năm và được điều chỉnh từng thời kỳ, mục đích vay bổ sung vốn lưu động để chế biến kinh doanh thủy hải sản, nông sản và rau quả các loại, thời hạn vay đến ngày 06/4/2026, phương thức thanh toán: Trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi vào ngày 16 hàng tháng. Thông qua các giải ngân như sau :
- + Giải ngân 1.300.000.000 đồng vào ngày 07/4/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 07/4/2023, lãi suất trong hạn 12%/năm.
- + Giải ngân số tiền 1.350.000.000 đồng vào ngày 08/5/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 08/5/2023, lãi suất trong hạn 12%/năm.
- + Giải ngân số tiền 1.250.000.000 đồng vào ngày 08/5/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN03 ngày 08/5/2023 lãi suất trong hạn 12%/năm.
- + Giải ngân số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 09/5/2023 theo Khế ước nhận nợ số 8601/23MN/HĐTD/KUNN04 ngày 09/5/2023 lãi suất trong hạn 12%/năm.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng Hợp tác xã T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến ngày 27/9/2023 với số tiền đã trả là: 45.531.726 đồng thì không thực nghĩa vụ trả nợ lãi và gốc theo thỏa thuận là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử với số tiền 4.867.431.558 đồng là có căn cứ. Theo bản chiết tính thu nợ vay của Ngân hàng về số tiền vốn vay, lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi của các khoản
tiền vay là chính xác, lãi suất vay hai bên thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Ngoài ra, Hợp tác xã T2 còn phải chịu nợ lãi, chi phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại kể từ ngày 08/5/2024 cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.
[4] Đối với yêu cầu của của nguyên đơn về trường hợp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Ngọc Nhật K có thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H thửa đất số 28, tờ bản đồ số 01 diện tích 2.663,2m² tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 154227, số vào sổ cấp GCN: CH01617 do Ủy ban Nhân dân thành Phố B cấp ngày 17/01/2013 cho ông Nguyễn Ngọc Nhật K đứng tên người sử dụng. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số 30504/20MN/HĐBĐ ngày 16/12/2020, hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL01 ngày 21/12/2021 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL02 ngày 06/4/2023 giữa ông Nguyễn Ngọc Nhật K với H1 - Chi nhánh B. Các hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bến Tre chứng thực và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 16/12/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B là đúng quy định tại Điều 4, 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực.
Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc Nhật K và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đều thống nhất trình bày toàn bộ tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng không có gì thay đổi và do ông K trực tiếp quản lý, sử dụng. Ông K cũng đồng ý giao tài sản thế chấp là toàn bộ thửa đất trên để thực hiện việc thanh toán nợ khi bị đơn không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Trường hợp Hợp tác xã T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Tre phát mãi tài sản thế chấp là phần đất thuộc thửa số 28, tờ bản đồ số 01 diện tích 2.663,2m² tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Hồ sơ pháp lý là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 154227, số vào sổ cấp GCN: CH01617 do Ủy ban Nhân dân thành Phố B cấp ngày 17/01/2013 cho ông Nguyễn Ngọc N Khang đứng tên người sử dụng để thu hồi nợ.
[5] Về nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch:
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 56.224.300 đồng theo biên lai thu số 0000945 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Hợp tác xã T2 (người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Việt A) có nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch như sau: 4.867.431.558 đồng = 112.000.000 đồng + 0,1%(867.431.558 đồng) = tính tròn là 112.867.000 đồng.
[6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 30, 35, 39, 147 khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 101, 102, 103, 104, Điều 292, 293 295, 298, 299, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, Điều 326, Điều 327, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NĐ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H đối với bị đơn là Hợp tác xã T2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc Hợp tác xã T2 (người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Việt A) có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền vay vốn và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 07/5/2024 là: 4.867.431.558 đồng (bốn tỷ tám trăm sáu mươi bảy triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi tám đồng). Trong đó: Số tiền gốc: 4.399.999.825 đồng; Lãi trong hạn: 58.245.856 đồng; Lãi quá hạn: 405.822.009 đồng; Lãi chậm trả lãi 3.363.868 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 08/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, Hợp tác xã T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 8601/23MN/HĐTD ngày 06/4/2023 và các đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H với Hợp tác xã T2. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp Hợp tác xã T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H được có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre phát mãi tài sản là toàn bộ thửa đất số 28, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.663,2m² tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 154227, số vào sổ cấp GCN: CH01617 do Ủy ban Nhân dân Thành Phố B cấp ngày 17/01/2013 cho ông Nguyễn Ngọc Nhật K đứng tên người sử dụng để thu hồi nợ. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của
người khác số 30504/20MN/HĐBĐ ngày 16/12/2020, hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL01 ngày 21/12/2021 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 30504/20MN/HĐBĐ/PL02 ngày 06/4/2023 giữa ông Nguyễn Ngọc Nhật K với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H - Chi nhánh B để thu hồi nợ.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch:
Hợp tác xã T2 (người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Việt A) có nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch tính tròn là: 112.867.000 đồng (một trăm mười hai triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 56.224.300 đồng (năm mươi sáu triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn ba trăm đồng) theo biên lai thu số 0000945 ngày 29/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo, các đương sự vắng mặt tại toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Thuý Hằng |
Bản án số 08/2024/KDTM-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 08/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP P và bị đơn Hợp tác xã Thương mại dịch vụ B
