|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/ HNGĐ-ST Ngày 06 - 9 - 2024 V/v: Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Văn Cương và ông Ma Vĩnh Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/6/2024 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Bị đơn: Anh Bế Đức M, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Q, xã H, Thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
(Chị L, anh M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 21/6/2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn Đặng Thị L trình bày: Chị và anh M là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng ngày 12/3/2015, việc đăng ký do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống ở nhà anh M tại N, Đ, Q, Cao Bằng. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau một thời gian chung sống bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm và anh M mắc vào tệ nạn ma túy, mặc dù chúng tôi đã được hòa giải nhưng không thành. Tháng 11 năm 2023 anh M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và hiện nay đang đi chấp hành án tại Trại giam Q. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh M, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đã làm đơn yêu cầu Toà án cho chị được ly hôn với anh.
- Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung tên là Bế Thị Minh T, sinh ngày 12/5/2016. Hiện nay, cháu T đang ở cùng ông bà nội và hàng tháng tôi vẫn gửi tiền về để nuôi con. Sau khi ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh M cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản tự khai ngày 26/7/2024, bị đơn Bế Đức M khai: Anh và chị L kết hôn năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Anh M cho rằng trong quá trình chung sống anh chị không xảy ra mâu thuẫn gì cho đến tháng 11/2023 anh bị bắt về tôi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh M nhất trí ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung là Bế Thị Minh T, sinh năm 2016. Sau khi ly hôn anh nhất trí để chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời anh M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị Đặng Thị L.
Tại phiên tòa chị Đặng Thị L và anh Bế Đức M đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo và chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị L. Cho chị Đặng Thị L được ly hôn với anh Bế Đức M.
- - Về con chung: Giao cháu Bế Thị Minh T, sinh ngày 12/5/2016 cho chị Đặng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét;
- - Về án phí: Chị Đặng Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- - Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Đặng Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Bế Đức M, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Bế Đức M có hộ khẩu thường trú và trước khi bị bắt giam trú tại xóm N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Do đó Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn Đặng Thị L đang đi làm xa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn Bế Đức M hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Q không thể có mặt tại Tòa án nhưng bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Xét thấy đã có lời khai trong hồ sơ và việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L và anh Bế Đức M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 12/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Vì vậy, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 01 con chung. Tuy nhiên sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh M mắc vào tệ nạn ma túy và hiện nay anh M đang chấp hành án tại Trạm giam Quảng Ninh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Từ đó hai vợ chồng cũng không còn tình cảm với nhau nữa nên chị L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và anh M cũng nhất trí. Xét thấy mâu thuẫn của chị L, anh M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nếu tiếp tục sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên nên cần chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị L, cho chị L được ly hôn với anh M là phù hợp với thực tế và đúng với các quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Chị Đặng Thị L và anh Bế Đức M có 01 con chung tên là: Bế Thị Minh T, sinh ngày 12/5/2016. Hiện nay, cháu đang ở cùng với ông bà nội và hàng tháng chị L vẫn gửi tiền để giúp ông bà nuôi dưỡng cháu Minh T. Sau khi ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Minh T và không yêu cầu anh M cấp dưỡng. Cháu T cũng có nguyện vọng sống cùng mẹ là chị L và anh M cũng đồng ý vì hiện nay anh đang chấp hành án. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của chị L là hợp tình, hợp lý và phù hợp với tình hình thực tế nên cần được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Việc chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần chấp nhận.
* Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị L và anh Bế Đức M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Đặng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị L được ly hôn với anh Bế Đức M.
- Về con chung:
Giao cho chị Đặng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bế Thị Minh T, sinh ngày 12/5/2016 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), (Hoặc đến khi có sự thay đổi bằng bản án, quyết định của Tòa án thay thế). Anh Bế Đức M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi có căn cứ, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Đặng Thị L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0002374 ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa. Xác nhận chị L đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị L, anh M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Thuý Quỳnh |
Bản án số 08/2024/ HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 08/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Đặng Thị L BĐ: Bế Đức M
