Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/KDTM- ST
Ngày 06/6/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Hà Huy Khoa.
  2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị G- Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 10/2023/TLST-KDTM ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-KDTM ngày 11 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QÐST- KDTM ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QÐST- KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N;

    trụ sở tại: Số B đường L, Phường T, Quận B, Thành Phố Hà Nội, Việt Nam.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng N (vắng mặt).

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Thành T - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ (có mặt tại phiên tòa).

    Người được ông Đặng Thành T ủy quyền lại: Bà Nhâm Thị Hồng H – Phó giám đốc Ngân hàng N – chi nhánh huyện Đ, Bắc Thái B (có mặt tại phiên tòa).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1,

    sinh năm 1959 - Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1; địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt tại phiên tòa).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    + Ông Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1958 – Là chồng của bà Nguyễn Thị H1; địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

    + Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng B1– Chủ tịch UBND xã P (vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1970- Phó Chủ tịch UBND xã P, kiêm Cán bộ địa chính xã P (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, Ngân hàng N trình bày:

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 đã ký Hợp đồng tín dụng số 3405LAV202002553 và ngày 21/5/2021 ký văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng trên với Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ vay vốn theo nội dung thỏa thuận sau đây:

  • Số tiền cho vay: 600.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm triệu đồng chẵn).
  • Mục đích vay: Kinh doanh hàng tạp hóa, bánh kẹo.
  • Phương thức vay: Hạn mức tín dụng.
  • Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng.
  • Lãi suất cho vay trong hạn 10%/năm.
  • Lãi suất quá hạn: bằng 130% lãi suất cho vay trong hạn.
  • Thời hạn trả nợ gốc tiền vay:
    • + Ngày vay: 15/12/2021 hạn trả 15/6/2022 số tiền 400.000.000 đồng.
    • + Ngày vay 21/12/2021 hạn trả 21/6/2022 số tiền 200.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là:

Quyền sử dụng đất 120m² đất ở tại thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình và nhà ở xây kiên cố mái bằng 01 tầng, công trình phụ ba gian mái bằng bên ngoài và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số 03/DC tại địa chỉ thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành Y 397329 do UBND huyện Đ cấp ngày 30 tháng 06 năm 2004; Số vào sổ cấp GCN: 00005.QSDĐ/....QĐ:05 - UBND(H) mang tên hộ ông Nguyễn Trọng Đ. Tài sản trên đất được UBND xã P xác nhận tại Cam kết tài sản thế chấp vay vốn Ngân hàng ngày 21/05/2020. Tài sản bảo đảm trên đã được thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HD2020/HĐTC ngày 21/05/2020, được công chứng tại Văn phòng C ngày 21/05/2020 và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Thái Bình chứng nhận việc thế chấp ngày 21/05/2020.

Trong thời gian sử dụng vốn vay hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 đã vi phạm các cam kết thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng là không trả nợ gốc, lãi theo thoả thuận đã ký kết. Tính đến ngày 06/6/2024 hộ gia đình bà H1 mới trả nợ cho Ngân hàng được 64.000.000 đồng tiền gốc và 38.169.864 đồng tiền lãi; hiện tại còn nợ Ngân hàng là 658.567.942 đồng (nợ gốc là 536.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn tương ứng lãi suất trong hạn là 91.688.301 đồng, nợ lãi phạt quá hạn 30.879.641 đồng).

Do hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Nông nghiệp và P triên nông thôn Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Buộc hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ tiền nợ gốc, tiền lãi và các chi phí liên quan theo Hợp đồng tín số 3405LAV202002553 ký kết ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 15/12/2021 và 21/12/2021 tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 658.567.942 đồng.
  2. Buộc hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 33405LAV202002553 ký kết ngày 20 tháng 5 năm 2022 và Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 15/12/2021 và 21/12/2021 kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm cho đến ngày thực tế hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.
  3. T2 nếu hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  4. Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng N.
  5. Về án phí và chi phí phí đo đạc và xem xét, thẩm định tại chỗ: Hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 phải chịu toàn bộ.

* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà là chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị h, bà có vay nợ của Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ với số tiền là 600.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích Kinh doanh hàng tạp hóa, bánh kẹo. Lãi suất cho vay, phương thức điều chỉnh lãi suất, lãi suất quá hạn, thời hạn vay, phương thức cho vay, tài sản bảo đảm cho khoản vay, số tiền bà đã trả như lời trình bày của đại diện Ngân hàng N.

Gia đình bà đã thế chấp cho Ngân hàng N: Quyền sử dụng đất 120m² ở tại thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình và 01 nhà ở mái bằng, công trình phụ ba gian mái bằng bên ngoài và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số 03/DC tại địa chỉ thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành Y 397329 do UBND huyện Đ cấp ngày 30 tháng 06 năm 2004; Số vào sổ cấp GCN: 00005.QSDĐ/....QĐ:05 - UBND(H) mang tên hộ ông Nguyễn Trọng Đ. Tài sản trên đất được UBND xã P xác nhận tại Cam kết tài sản thế chấp vay vốn Ngân hàng ngày 21/05/2020. Tài sản bảo đảm trên đã được thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HD2020/HĐTC ngày 21/05/2020, được công chứng tại Văn phòng C ngày 21/05/2020 và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Thái Bình chứng nhận việc thế chấp ngày 21/05/2020.

Sau khi vay được tiền của Ngân hàng, do kinh doanh không được nên bà đã cho vợ chồng anh Trần Công H2 và chị Đoàn Thị P1 vay lại số tiền trên, hàng tháng anh H2 và chị P1 trả lãi ngân hàng thay bà, có một số lần thì bà đi trả lãi cho ngân hàng. Tháng 6/2022, do vợ chồng anh H2, chị P1 bị phá sản và chồng bà là ông Nguyễn Trọng Đ bị ốm nên bà không có khả năng trả tiền cho ngân hàng, dẫn đến khoản nợ của bà quá hạn. Bà xác định số tiền bà còn nợ Ngân hàng đúng như Ngân hàng đã khai và bà là người vay tiền thì bà phải có trách nhiệm trả tiền cho ngân hàng.

Các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc Ngân hàng N khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà thì bà và ông Đ (chồng bà) đều nhận được.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập:

  • - Ông Nguyễn Trọng Đ: Đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N với bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1, nhưng ông Đ không đến Tòa án để làm việc và không có văn bản nêu ý kiến cũng như tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa.
  • - Đại diện UBND xã P trình bày: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 397329 do UBND huyện Đ cấp ngày 30 tháng 06 năm 2004 cho hộ ông Nguyễn Trọng Đ (bao gồm ông Nguyễn Trọng Đ và vợ là bà Nguyễn Thị H1) là thửa đất 480, tờ bản đồ số 03/DC tại thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình có diện tích là 120m². Hiện tại theo đo đạc thực tế diện tích sử dụng là 150,9m², diện tích tăng lên so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 30,9m² là do vợ chồng bà H1 xây công trình phụ đã lấn sang diện tích đất thủy lợi do UBND xã quản lý. UBND xã đề nghị, nếu phát mại tài sản thì chỉ phát mại đối với diện tích 120m² đất và tài sản trong phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hộ gia đình bà H1 đã thế chấp cho Ngân hàng.

* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và trích đo hiện trạng thửa đất ngày 23/01/2024 thể hiện:

Các tài sản mà bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Trọng Đ thế chấp cho Ngân hàng N ngày 21 tháng 5 năm 2020 để bà Nguyễn Thị H1 vay tiền của Ngân hàng vẫn còn nguyên hiện trạng. Qua đo đạc thực tế thì công trình phụ 03 gian mái bằng gia đình bà H1 thế chấp cho Ngân hàng có diện tích là 29,8m², trong đó có 21,1m² nằm trong diện tích đất đã thế chấp cho Ngân hàng và có 8,7m² nằm trên 30,9m² diện tích đất thủy lợi do UBND xã P quản lý.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Ngân hàng có ý kiến: Do 03 gian công trình phụ mái bằng gia đình bà H1 thế chấp cho Ngân hàng có một phần diện tích nằm trên đất đất thủy lợi do UBND xã P quản lý nên trong trường hợp cần thiết để đảm bảo cho việc phát mại tài sản thế chấp thì Ngân hàng không đề nghị phát mại 03 gian công trình phụ mái bằng trên và sẽ chịu trách nhiệm tháo dỡ 03 gian công trình phụ đó.
  • - Bà Nguyễn Thị H1 nhất trí với ý kiến trên của đại diện Ngân hàng.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.

Về nội dung:

Điều 116, 117, 119, 120, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 464, 465, 466, 467, 470 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai. Các Điều 90, 91, 93, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N:

  • - Buộc bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng N: 658.567.942 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 536.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 91.688.301 đồng; nợ lãi quá hạn là 30.879.641 đồng.
  • - Nếu bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp gồm quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất trong phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • - Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
  • - Về án phí và chi phí đo đạc và xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải chịu toàn bộ.

Ngân hàng N không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Đây là vụ án phát sinh từ Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ với bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1; các bên đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn có nơi cư trú tại Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp kinh doanh thương mại, loại tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

[1.2]. Về việc vắng mặt của đương sự:

  • - Ông Nguyễn Trọng Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Tòa án xét xử vắng mặt ông Đ.
  • - Đại diện UBND xã P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Xét yêu cầu của Ngân hàng N về việc buộc bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải thanh toán trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng hai bên đã ký đến khi thanh toán xong khoản nợ, thấy: Hợp đồng tín dụng số 3405LAV202002553 giữa Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ với bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, chủ thể ký kết hợp đồng là người đủ năng lực hành vi dân sự, đủ thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, do đó hợp đồng trên là hợp pháp. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng N đã thực hiện theo thỏa thuận, giải ngân số tiền cho vay 600.000.000 đồng, đúng thời hạn. Tuy nhiên bên vay là bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi hàng tháng như đã cam kết. Kể từ thời điểm vay cho đến thời điểm hiện tại bà Nguyễn Thị H1 mới trả được cho Ngân hàng 64.000.000 đồng tiền gốc và 38.169.864 đồng tiền lãi. Tính đến ngày 06/6/2024 bà H1 còn nợ Ngân hàng 658.567.942 đồng; trong đó nợ gốc 536.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 91.688.301 đồng; nợ lãi quá hạn 30.879.641 đồng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự và thỏa thuận tại Hợp đồng hai bên đã ký kết thì bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó đề nghị của Ngân hàng về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng hai bên đã ký kết đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có cơ sở. Căn cứ vào Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 là người trực tiếp làm thủ tục và ký hợp đồng vay vốn của Ngân hàng và là người trực tiếp nhận tiền Ngân hàng cho vay nên chỉ phát sinh nghĩa vụ trả nợ của hộ gia đình bà Nguyễn Thị H1 với Ngân hàng, không liên quan gì đến vợ chồng anh Trần Công H2 và chị Đoàn Thị P1 (người mà bà H1 cho rằng bà đã cho vay lại tiền của Ngân hàng). Hội đồng xét xử không giải quyết việc vay nợ giữa bà Nguyễn Thị H1 và vợ chồng anh Trần Công H2 và chị Đoàn Thị P1 trong vụ án này.

[2.2]. Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay trong trường hợp bà H1 không thanh toán được nợ gốc, nợ lãi trên, thấy:

Để đảm bảo cho khoản vay của bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 theo Hợp đồng tín dụng số 33405LAV202002553 ngày 20/5/2020 tại Ngân hàng N thì bà Nguyễn Thị H1 cùng chồng là ông Nguyễn Trọng Đ đã thế chấp các tài sản gồm: Quyền sử dụng đất 120m² đất ở tại thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình và nhà ở xây kiên cố, mái bằng 01 tầng, công trình phụ 03 gian mái bằng bên ngoài và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số 03/DC tại địa chỉ thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Tài sản trên, chủ tài sản Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Trọng Đ và do bên thế chấp đầu tư trước khi thế chấp. Tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp, các bên đều có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Các bên đều xác định, tài sản thế chấp vẫn còn nguyên hiện trạng, không có thay đổi gì so với khi thế chấp.

Qua đo đạc thực tế thấy công trình phụ 03 gian mái bằng gia đình bà H1 thế chấp cho Ngân hàng có một phần diện tích nằm trong phạm vi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho Ngân hàng và một phần diện tích nằm trên đất thủy lợi do UBND xã P quản lý nhưng các bên đương sự vẫn đưa tài sản này vào để đăng ký thế chấp là có thiếu sót, cụ thể: Phía bên thế chấp tài sản không trung thực trong việc kê khai tài sản thế chấp và phía Ngân hàng không xem xét, thẩm định kỹ tài sản thế chấp dẫn tới việc thế chấp cả phần tài sản gia đình bà H1 xây dựng lấn chiếm sang phần đất thủy lợi do UBND xã P quản lý, gây khó khăn cho việc thi hành án trong trường hợp phải phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, nay Ngân hàng không đề nghị phát mại 03 gian công trình phụ mái bằng trên và có trách nhiệm tháo dỡ 03 gian công trình phụ đó là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí và chi phí tố tụng:

[3.1]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Bị đơn, bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là: 20.000.000 đồng + [(658.567.942 đồng – 400.000.000 đồng) x 4%] = 30.343.000 đồng (số làm tròn)

[3.2]. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc và xem xét, thẩm định tại chỗ.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 116, 117, 119, 120, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 463, 464, 465, 466, 467, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Các Điều 90, 91, 93, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1.
    1. Buộc bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải trả nợ cho Ngân hàng N tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng số 33405LAV202002553 ngày 20/5/2020 mà hai bên đã ký kết. Tổng số tiền phải trả tính đến ngày 06/6/2024 là 658.567.942 đồng, trong đó nợ gốc là 536.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 91.688.301 đồng, nợ lãi quá hạn là 30.879.641 đồng.
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng N thì lãi suất mà bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N.
    3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng N có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HD2020/HĐTC ngày 21/05/2020 để thu hồi nợ trả cho Ngân hàng N gồm: Quyền sử dụng 120m² đất ở và nhà mái bằng 01 tầng cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số 03/DC tại địa chỉ thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành Y 397329 do UBND huyện Đ cấp ngày 30 tháng 06 năm 2004; Số vào sổ cấp GCN: 00005.QSDD/....QĐ:05- UBND(H) mang tên hộ ông Nguyễn Trọng Đ.
    4. Chấp nhận việc Ngân hàng N không đề nghị xử lý tài sản thế chấp công trình phụ 03 gian mái bằng thể hiện trong Hợp đồng thế chấp tài sản số HD2020/HĐTC ngày 21/05/2020 và Ngân hàng N có trách nhiệm tháo dỡ 29,8m² công trình phụ 03 gian mái bằng trong trường hợp phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
    5. (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản trên đất kèm theo)

    6. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng N.
  2. Về án phí và chi phí tố tụng:
    1. Về án phí: Ngân hàng N không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả Ngân hàng N số tiền 15.200.000 đồng tạm ứng án phí nộp tại biên lai thu số 0003063 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng.
    2. Bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 30.343.000 đồng.

    3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc và xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Số tiền này Ngân hàng N đã nộp tạm ứng; Bà Nguyễn Thị H1- Chủ hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ hoàn lại 3.000.000 đồng cho Ngân hàng N.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với người có mặt tại phiên tòa; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi nhận:

  • - Các Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Đông Hưng;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THA DS huyện Đông Hưng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Kiên Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/KDTM- ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2024/KDTM- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hơp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger