Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/HNGĐ-PT

Ngày: 16/4/2025

V/v “Xin ly hôn, chia

tài sản khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân
  • Các Thẩm phán:
    • Ông Huỳnh Châu Thạch
    • Ông Nguyễn Văn Thanh
  • Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2025/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc “Xin ly hôn, chia tài sản khi ly hôn".

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh bị kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 26/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Vũ Triệu D, sinh năm 1971; địa chỉ: D, đường số D, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Văn N – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số B B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1971, địa chỉ: Số I, thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Dương Đình N1 – Văn phòng luật sư Dương Đình N1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Địa chỉ: Số 06, đường Nguyễn Văn Trỗi, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. 3.1. Chị Vũ Thị Á, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A V, Chung cư C, Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh và số I, thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
    2. 3.2. Anh Vũ Hùng Q, sinh năm 1994; địa chỉ: Số C T, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Do có kháng cáo của bà Hoàng Thị L, chị Vũ Thị Á, anh Vũ Hùng Q và Quyết định kháng nghị số 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/3/2025 của VKSND tỉnh Lâm Đồng.

(Các đương sự và Luật sư đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện ngày 06 tháng 8 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 26-8-2024, trong quá trình xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn ông Vũ Triệu D trình bày, luật sư Lê Văn N trình bày về phần tài sản:
    • Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Hoàng Thị L kết hôn ngày 19-5-2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B1, quận B,Thành phố Hồ Chí Minh, trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu khoảng hai năm, hôn nhân do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ khoảng tháng 7 năm 2021 đến nay vợ chồng đã tự sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn bà Hoàng Thị L.
    • Về con chung; vợ chồng không có con chung.
    • Về tài sản: Diện tích đất 4.448,1m², thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 15, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 14-12-2017, tên chị Vũ Thị Ánh . Theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 25-6-2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D, tổng diện tích đo đạc là 3990,3m², thuộc thửa 62, tờ bản đồ 15 mới. Vị trí 01: diện tích là 1643,2m², trong đó 143,2m² thuộc hành lang bảo vệ suối; vị trí 02: diện tích 2347,1m², trong đó 143,4m² thuộc hành lang bảo vệ suối; Công trình xây dựng trên đất gồm: Nhà lớn 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; nhà nhỏ 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; mái hiên; giếng nước; chuồng heo; chuồng gà số 1; chuồng gà số 2; chuồng chó; hồ nước; ao; bồn nước S 10001, bồn nước S 20001; Cây trồng trên đất gồm; Sầu riêng, cà phê, mít, bưởi, xoài, bơ, chôm chôm. Nhà và đất nêu trên hiện nay bà Hoàng Thị L và chị Vũ Thị Á đang quản lý, sử dụng.
    • Nguồn gốc tài sản chung: Ngày 20-01-2019 ông và bà Hoàng Thị L mua chung diện tích đất 4.448,1m², thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 15, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng của ông Dương P và bà Phạm Thị Hồng M (theo Hợp đồng đặt cọc viết tay vào ngày 20-01-2019).
    • Khi ký hợp đồng mua bán chuyển nhượng, vợ chồng ông thống nhất tạm thời để con riêng của bà Hoàng Thị L là chị Vũ Thị Á đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng, việc đứng tên này chỉ thoả thuận miệng và không được lập thành văn bản. Sở dĩ, vợ chồng ông để cho chị Vũ Thị Á đứng tên sang nhượng là do đối với ông giá trị tài sản này nhỏ, mục đích mua để bán lại kiếm lời, ông không thường xuyên sinh sống ở xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, khi sang nhượng lại cho người khác cần phải ký tên, ông không có thời gian đi lại nhiều nên để chị Vũ Thị Á đứng tên. Thoả thuận này có người làm chứng là ông Dương P, bà Phạm Thị Hồng M làm chứng. Thời điểm này chị Á 21 tuổi, sinh viên mới ra trường chưa có việc làm nên không có khả năng mua đất. Việc ông Vũ Triệu D liên hệ mua đất và đặt cọc thì ông Dương P, bà Phạm Thị Hồng M có Văn bản chủ đất cũ xác nhận và làm chứng ngày 14-5-2024 và ông Trần T có bản tự khai ngày 22-9-2023 đều xác nhận người liên hệ trao đổi mua đất và đặt cọc tiền đất là ông Vũ Triệu D nhưng ông D không ký tên vào hợp đồng đặt cọc. Ông Vũ Triệu D có Đơn tường trình sự việc bổ sung xác nhận của người làm chứng (BL 53, 54).
    • Ngoài ra, tài sản chung vợ chồng có khoản tiền bà Hoàng Thị L đã mở sổ tiết kiệm hoặc chuyển khoản cho người khác là 1.208.700.000 đồng, ông yêu cầu chia đôi khoản tiền hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông D và bà L là (1.208.700.000 đồng : 2) = 604.350.000 đồng.
    • Ngoài ra, vợ chồng không có tài sản chung gì khác.
    • Khi ly hôn ông yêu cầu Toà án chia tài sản chung như sau:

      Chia vị trí 01: diện tích đất và tài sản gắn liền với đất là 1643,2m², trong đó 143,2m² thuộc hành lang bảo vệ suối (phần đất không có nhà) cho ông; Chia cho bà Hoàng Thị L vị trí 02: diện tích đất và tài sản gắn liền với đất là 2347,1m², trong đó 143,4m² thuộc hành lang bảo vệ suối; phần giá trị chêch lệch do chia tài sản ông không yêu cầu bà L thanh toán.

    • Yêu cầu Toà án đình chỉ yêu cầu chia tài sản đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, biển kiểm soát 51G – 61103, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên ông Vũ Triệu D, hiện nay ông D đang quản lý sử dụng. Do bà L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.
    • Yêu cầu Toà án đình chỉ yêu cầu ông trả số tiền vay 550.000.000 đồng. Do anh Vũ Hùng Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.
    • Tại phiên toà sơ thẩm ông Vũ Triệu D rút toàn bộ yêu cầu về chia giá trị tài sản chênh lệch, rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung tại Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 26-8-2024 đối với yêu cầu bà L trả cho ông D số tiền 604.350.000₫ (Sáu trăm lẻ bốn triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác.
    • Ông Vũ Triệu D đồng ý với kết quả Họa đồ đo đạc hiện trạng của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D lập ngày 25-6-2024; đồng ý Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T1 ngày 08-11-2023 và đồng ý Chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH H ngày 17-11-2023.
  2. Bị đơn bà Hoàng Thị L có đơn khởi kiện phản tố và trình bày; Luật sư Dương Đình N1 trình bày về phần tài sản:
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà và Vũ Triệu D kết hôn ngày 19-5-2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, hôn nhân do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và đã tự chấm dứt mọi quan hệ không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay ông D yêu cầu xin ly hôn thì bà đồng ý thuận tình ly hôn.
    • Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
    • Về tài sản: Diện tích đất 4.448,1m², thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 15, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 14-12-2017, tên chị Vũ Thị Á và công trình xây dựng trên đất gồm; nhà lớn 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; nhà nhỏ 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; mái hiên; giếng nước; chuồng heo; chuồng gà số 1; chuồng gà số 2; chuồng chó; hồ nước; ao; bồn nước S 10001, bồn nước S 20001; Cây trồng trên đất: Sầu riêng, cà phê, mít, bưởi, xoài, bơ, chôm chôm hiện nay bà và chị Á đang quản lý. Bà xác định quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất là của con gái bà là chị Vũ Thị Á; không phải tài sản chung của bà và ông D như lời trình bày của ông D.
    • Nguồn gốc đất của con gái bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Dương P và bà Phạm Thị Hồng M, do chị Á (con gái bà) ở xa nên tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc ngày 20-01-2019 bà là người đứng tên ký hợp đồng đặt cọc giùm, nhưng toàn bộ khoản tiền thanh toán cho bên chuyển nhượng là của con gái bà (Vũ Thị Á). Bà Hoàng Thị L và ông Vũ Triệu D không cho tiền chị Á để mua đất. Do chị Á ở xa nên giao tài sản cho bà quản lý, sử dụng. Công trình xây dựng trên đất là do chị Vũ Thị Á bỏ tiền xây dựng không phải tài sản chung của bà và ông D.
    • Tài sản chung: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, biển kiểm soát 51G – 61103, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên ông Vũ Triệu D, hiện nay ông D đang quản lý sử dụng. Ngoài ra, không có tài sản chung nào khác. Khi ly hôn về tài sản chung bà yêu cầu Toà án chia ½ giá trị chiếc xe, bà nhận bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
    • Về khoản nợ: Nợ con trai bà là anh Vũ Hùng Q số tiền 1.100.000.000₫, mục đích vay để mua xe ô tô biển kiểm soát 51G - 61103, khi vay anh Q nộp tiền vào tài khoản của ông Vũ Triệu D, nội dung “Chuyển tiền vào tài khoản”. Khi ly hôn bà yêu cầu mỗi người có trách nhiệm trả cho anh Vũ Hùng Q số tiền vay 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).
    • Ngoài ra, bà Hoàng Thị L không có yêu cầu gì khác.
  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Anh Vũ Hùng Q có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập và trình bày: Yêu cầu ông Vũ Triệu D và bà Hoàng Thị L phải trả cho anh Vũ Hùng Q số tiền nợ 1.100.000.000 đồng đã vay ngày 17-5-2018. Tài liệu, chứng cứ chứng minh: Giấy nộp tiền ngày 17-5-2018.
    • 3.2. Chị Vũ Thị Á trình bày; Chị Á xác định diện tích đất 4.448,1m², thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 15, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 14-12-2017 đứng tên chị Vũ Thị Á và công trình xây dựng trên đất gồm; nhà lớn 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; nhà nhỏ 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; mái hiên; giếng nước; chuồng heo; chuồng gà số 1; chuồng gà số 2; chuồng chó; hồ nước; ao; bồn nước Sơn Hà 10001; bồn nước S 20001; Cây trồng trên đất gồm; Sầu riêng, cà phê, mít, bưởi, xoài, bơ, chôm chôm đều là tài sản thuộc sở hữu của chị Á. Hiện nay toàn bộ tài sản này do bà Hoàng Thị L và chị Á đang quản lý, sử dụng; không thế chấp cho tổ chức nào. Việc ông Vũ Triệu D yêu cầu chia tài sản của chị khi ly hôn bà Hoàng Thị L thì chị không đồng ý. Ngoài ra, chị Vũ Thị Á không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Triệu D và bà Hoàng Thị L ly hôn.
  2. Về tài sản:
    • 2.1. Tài sản chung:

      Xác định diện tích đất 4.448,1m², thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 15, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 14-12-2017, tên chị Vũ Thị Á là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Vũ Triệu D và bà Hoàng Thị L.

      Theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 25-6-2024 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D, tổng diện tích đo đạc là 3990,3m², thuộc thửa 62, tờ bản đồ 15 mới. Vị trí 01: diện tích là 1643,2m², trong đó 143,2m² thuộc hành lang bảo vệ suối; Vị trí 02: diện tích 2347,1m², trong đó 143,4m² thuộc hành lang bảo vệ suối.

    • 2.2. Chia cho ông Vũ Triệu D vị trí 01: diện tích đất và tài sản gắn liền với đất là 1643,2m², trong đó 143,2m² thuộc hành lang bảo vệ suối (phần đất không có nhà); Chia cho bà Hoàng Thị L vị trí 02: diện tích đất và tài sản gắn liền với đất là 2347,1m², trong đó 143,4m² thuộc hành lang bảo vệ suối; không bên nào phải có nghĩa vụ trả bù tiền chênh lệch giá trị tài sản. (Kèm theo Họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 25-6-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D)
    • 2.3. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, biển kiểm soát 51G – 61103, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên ông Vũ Triệu D, hiện nay ông D đang quản lý sử dụng của bà Hoàng Thị L. Do bà L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.
    • 2.4. Đình chỉ yêu cầu ông Vũ Triệu D và bà Hoàng Thị L trả số tiền vay 1.100.000.000 đồng của anh Vũ Hùng Q. Do anh Vũ Hùng Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.
    • 2.5. Đình chỉ yêu cầu bà Hoàng Thị L trả cho ông Vũ Triệu D số tiền 604.350.000 đồng khoản tiền hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do tại phiên toà ông Vũ Triệu D rút toàn bộ yêu cầu này.

    Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Bà Hoàng Thị L và anh Vũ Hùng Q không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án này về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp trừ trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Trả lại đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ kèm theo cho ông Vũ Triệu D, bà Hoàng Thị L và anh Vũ Hùng Q nếu có yêu cầu.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.

Bị đơn bà Hoàng Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Á, anh Vũ Hùng Q kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

Ngày 21/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh theo Quyết định kháng nghị số 33/QĐKNPT-VKS-DS.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Hoàng Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Á, anh Vũ Hùng Q đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

Nguyên đơn ông Vũ Triệu D không đồng ý với kháng cáo và kháng nghị, đề nghị giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay, Thẩm phán; Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ. Đồng thời, nêu quan điểm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng; chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị L; chị Vũ Thị Á; anh Vũ Hùng Q; hủy một phần bản án sơ thẩm về phần tài sản và nợ chung; giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết theo thẩm quyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị L; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; chị Vũ Thị Á; anh Vũ Hùng Q; Quyết định kháng nghị số 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/3/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Thủ tục kháng cáo, kháng nghị được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273; Điều 278; Điều 279; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung:
    • [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
    • [2.2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Á, anh Vũ Hùng Q, Quyết định kháng nghị số 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
      • [2.2.1] Diện tích đất 4.448,1m², thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 15, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 14/12/2017, tên chị Vũ Thị Ánh . Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-2019, bên chuyển nhượng ông Dương P, bà Phạm Thị Hồng M và bên nhận chuyển nhượng chị Vũ Thị Ánh . Theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất lập ngày 25/6/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D, tổng diện tích đo đạc là 3990,3m², thuộc thửa 62, tờ bản đồ 15; Công trình xây dựng trên đất gồm: Nhà lớn 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; nhà nhỏ 01 tầng, tường bao xây gạch, mái lợp tôn; mái hiên; giếng nước; chuồng heo; chuồng gà số 1; chuồng gà số 2; chuồng chó; hồ nước; ao; bồn nước S 10001, bồn nước S 20001; Cây trồng trên đất gồm: Sầu riêng, cà phê, mít, bưởi, xoài, bơ, chôm chôm. Ông D xác định là tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia, bà L xác định nhà và đất đứng tên chị Vũ Thị Á không phải là tài sản chung của vợ chồng; chị Á xác định nhà và đất là tài sản của chị không liên quan đến vợ chồng ông D, bà L.
      • Xét về nguồn gốc; Ông D cho rằng thửa đất 62, tờ bản đồ số 15, diện tích 4.448,1m² vợ chồng ông nhận chuyển nhượng vào ngày 20/01/2019 của vợ chồng ông Dương P, bà Phạm Thị Hồng M nhưng vợ chồng thỏa thuận để con gái riêng của vợ là chị Vũ Thị Á làm thủ tục chuyển nhượng và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giùm, hai bên thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản. Sau khi nhận chuyển nhượng đất vợ chồng ông là người xây dựng toàn bộ công trình trên đất.
      • Bà L xác định thửa đất trên là tài sản của chị Vũ Thị Á (con gái riêng của bà L) không phải tài sản chung của vợ chồng như lời trình bày của ông D. Bà thừa nhận bà và ông D là người trực tiếp thỏa thuận về giá chuyển nhượng, diện tích đất chuyển nhượng với chủ đất, nhưng người quyết định nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là chị Vũ Thị Ánh B chỉ thay mặt con gái làm hợp đồng đặt cọc còn việc chuyển nhượng và làm thủ tục chuyển nhượng con gái bà là người thực hiện, không có việc thỏa thuận vợ chồng bà nhờ con gái riêng của bà đứng tên giùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như lời trình bày của ông D.
      • Chị Vũ Thị Á là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày; chị là con gái riêng của bà L; thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất do chị làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh nên có nhờ mẹ thỏa thuận về giá và làm hợp đồng đặt cọc để mua thửa đất trên với chủ đất và chị là người trực tiếp làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với người chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như thanh toán tiền cho người chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng đất chị là người xây dựng toàn bộ công trình trên đất. Nên chị xác định thửa đất và công trình xây dựng trên đất ông D xác định là tài sản chung của ông và bà L chị không đồng ý vì thửa đất là tài sản của chị, chị là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và toàn bộ khoản tiền chuyển nhượng đất xây dựng công trình trên đất là tiền của chị.
      • Xét, lời khai giữa nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Á cũng như lời khai của người làm chứng khai có nhiều mâu thuẫn liên quan đến ai là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, người thỏa thuận chuyển nhượng đất, thỏa thuận về giá chuyển nhượng cụ thể là ai? Người thỏa thuận chuyển nhượng có phải là người nhận chuyển nhượng đất hay không? Có hay không việc người thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau đó thỏa thuận miệng nhờ chị Á đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như lời trình bày của ông D và lời trình bày của người làm chứng. Trong khi đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thể hiện người nhận chuyển nhượng là chị Á, giấy đặt cọc chỉ thể hiện người đặt cọc là bà L (mẹ chị Á). Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 62, tờ bản đồ số 15, diện tích 4.448m² tại xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Vũ Thị Á (con riêng của bà L) có phải là tài sản chung của ông D và bà L nhờ chị Vũ Thị Á đứng tên giùm hay không và chưa làm rõ nguồn tiền nhận chuyển nhượng từ đâu để thanh toán mà chỉ căn cứ vào lời trình bày của vợ chồng ông P, bà M (người chuyển nhượng thửa đất) và ông Trần T để xác định người liên hệ trao đổi mua đất và đặt cọc là ông Vũ Triệu D (ông D không ký tên vào hợp đồng đặt cọc) và lời trình bày của ông D để xác định thửa đất trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Vũ Triệu D và bà Hoàng Thị L và chia cho ông D nhận vị trí số 1; diện tích đất và tài sản gắn liền với đất là 1643,2m², trong đó 143,2m² thuộc hành lang bảo vệ suối (phần không có nhà); chia cho bà L nhận vị trí số 2 diện tích đất và tài sản gắn liền với đất là 2347,1m², trong đó 143,4m² thuộc hành lang bảo vệ suối. Trong khi tài sản là quyền sử dụng đất đứng tên chị Vũ Thị Á; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 24/01/2019 bên chuyển nhượng là ông Dương P, bà Phạm Thị Hồng M và bên nhận chuyển nhượng là chị Vũ Thị Á; Hợp đồng đặt cọc viết tay ngày 20/01/2019 thể hiện bà Hoàng Thị L ký. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất là tài sản chung của ông D và L để chia cho ông D và bà L mà không đề cập gì đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Vũ Thị Á là chưa xem xét toàn diện, giải quyết triệt để yêu cầu của đương sự.
      • [2.2.2] Bà L xác định tài sản chung của vợ chồng là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, biển kiểm soát 51G-61103, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên Vũ Triệu D (ông D đang quản lý sử dụng) và yêu cầu chia đôi giá trị. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định do bà L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Đình chỉ yêu cầu chia tài sản của bà L và tuyên hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án “...bà Hoàng Thị L không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án này về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp...” là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
      • [2.2.3] Tòa án cấp sơ thẩm Đình chỉ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Hùng Q yêu cầu ông Vũ Triệu D, bà Hoàng Thị L có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền nợ 1.100.000.000đ với lý do anh Vũ Hùng Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tuy nhiên; Hồ sơ vụ án thể hiện anh Q có địa chỉ nơi cư trú tại số F N, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tòa án không thực hiện việc tống đạt Quyết định hoãn phiên toà số 86/2024/QÐST-HNGĐ và Giấy triệu tập số 190/GTT-TA về việc triệu tập đương sự có mặt tại tại phiên tòa ngày 24/10/2024 cho anh Q theo địa chỉ nơi cư trú, mà giao cho bà L (mẹ của ông Q); mặc dù bà L cam kết giao tận tay cho ông Q; nhưng bà L cũng thừa nhận bà chưa giao văn bản tố tụng được cho anh Q. Anh Q cũng xác nhận bản thân không nhận được Quyết định hoãn phiên toà, không biết thời gian mở lại phiên toà để tham dự và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Như vậy, anh Q chưa được tống đạt hợp lệ văn bản trên. Việc Toà án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu độc lập của anh Q với lý do anh Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do là không đúng quy định của pháp luật, vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
      • [2.2.4] Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng còn kháng nghị liên quan đến phần quyết định án phí “bản án tuyên bà L được nhận phần tài sản tương đương 2/3 giá trị tài sản chung (do ông D không yêu cầu thanh toán phần giá trị chênh lệch) nhưng án sơ thẩm không tuyên buộc bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là vi phạm quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước” và Tại mục 6 của bản án thể hiện: "Bản án này được thi hành ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự". Việc bản án sơ thẩm tuyên như trên là vi phạm quy định về quyền kháng cáo của đương sự tại Điều 70, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Vi phạm quy định về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát tại các Điều 57, 278, 280 bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ nên chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Từ những căn cứ trên nhận thấy: Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung vụ án; làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Với các vi phạm trên, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của của bị đơn bà Hoàng Thị L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Hùng Q và chị Vũ Thị Á; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, hủy một phần bản án sơ thẩm về phần chia tài sản và thanh toán nợ chung, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. [4] Về án phí: Do huỷ bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Hùng Q, chị Vũ Thị Ánh . Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Xử;

  1. Hủy một phần Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về phần chia tài sản chung và nợ chung. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí: Hoàn trả cho bà Hoàng Thị L 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004419 ngày 06/12/2024; chị Vũ Thị Á 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004417 ngày 06/12/2024, anh Vũ Hùng Q 300.000₫ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004409 ngày 03/12/2024 đều của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

    Án phí sơ thẩm; chi phí tố tụng sẽ được ấn định khi vụ án được giải quyết lại theo quy định.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC;
  • - VKSND tỉnh LĐ;
  • - TAND huyện Di Linh (02);
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Phòng TTr, KT&THA;
  • - Các đương sự (04);
  • - Lưu AV – HS (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/HNGĐ-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 08/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị đơn bà Hoàng Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Á, anh Vũ Hùng Q kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger