Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 05-01-2026

V/v Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Quỳnh

2. Bà Cao Thị Hồng Minh

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Vân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Năng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện N (nay là xã N), tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lò Thị H: Bà Cao Thị B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Ngô Hải C, sinh năm: 1988; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện Đ (nay là xã T), tỉnh Điện Biên. Hiện đang bị tạm giam tại: Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2025 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ (nay là xã T), tỉnh Điện Biên vào ngày 05/7/2017. Anh chị kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trong quá trình chung sống anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C nghiện ma túy nên hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị và gia đình đã động viên nhiều lần nhưng anh C không cai được ma túy. Anh C thường xuyên đi làm xa nhà, không có việc làm ổn định, việc nuôi con chủ yếu là do chị H, vợ chồng đã lâu không chung sống cùng nhau. Ngoài ra, do nghiện ma túy nên anh C thường xuyên hỏi tiền chị H khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và căng thẳng. Ngày 05/8/2025, chị nhận được tin anh C bị bắt tạm giam về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại tỉnh Bắc Ninh. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, hiện tại chị H không còn tình cảm với anh C, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Chị H và anh C có 01 người con chung là cháu Ngô Minh K, sinh ngày 30/7/2018. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi thành niên và có khả năng lao động; về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 11/12/2025, bị đơn anh Ngô Hải C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị H đăng ký kết hôn năm 2017 tại UBND xã T, huyện Đ (nay là xã T), tỉnh Điện Biên. Anh chị kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Thời gian đầu, anh chị chung sống hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì. Hiện tại anh C đang vi phạm pháp luật hình sự và đang bị tạm giam. Chị H làm đơn xin ly hôn, anh C không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị H và không muốn con chung phải sống thiếu bố hoặc mẹ.

Về con chung: Anh C và chị H có 01 người con chung là cháu Ngô Minh K, sinh ngày 30/7/2018. Nếu vợ chồng ly hôn, anh C muốn được nuôi con và ủy quyền cho anh trai là ông Ngô Văn T, sinh năm 1979, địa chỉ tại xã T, tỉnh Điện Biên nuôi con chung, anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản: Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ thu về: Không.

Ngoài ra, anh C đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng cho anh trai là Ngô Văn T.

Đơn trình bày nguyện vọng ngày 10/10/2025 của cháu Ngô Minh K trình bày: Sau khi bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: Tòa án đã ủy thác cho Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh và Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tống đạt các văn bản tố tụng và hướng dẫn anh C viết bản tự khai. Tại buổi hoà giải bị đơn anh Ngô Hải C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng đang bị tạm giam nên vắng mặt, chị H đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải mà đưa vụ án ra xét xử nên theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu của chị H là có căn cứ và hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H, chị H là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị H.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX vào nghị án đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H; Giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung và quan hệ tài sản; Chị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh C và yêu cầu giải quyết về con chung, đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh C có nơi cư trú tại Thôn V, xã T, huyện Đ (nay là xã T), tỉnh Điện Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

Các vấn đề khác: Nguyên đơn chị H và bị đơn anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị H và anh C đều có đơn xin xét xử vắng mặt; vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 238/BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh C.

Việc anh C đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng cho anh trai là Ngô Văn T: Xét thấy anh C đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B, còn anh Ngô Văn T đang cư trú tại xã T, tỉnh Điện Biên; nếu Tòa án tống đạt văn bản cho anh T thì anh T không thể thông báo hoặc giao ngay văn bản lại cho anh C được, như vậy anh C sẽ không thực hiện được kịp thời quyền và nghĩa vụ của mình; do đó, Tòa án thực hiện việc ủy thác để tống đạt văn bản cho anh C theo đúng quy định của BLTTDS.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh C đăng ký kết hôn vào ngày 05/7/2017 tại UBND xã T, huyện Đ (nay là xã T), tỉnh Điện Biên. Chị H và anh C kết hôn với nhau là tự nguyện, không bị ai ép buộc và tuân thủ đầy đủ các qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo qui định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C là hôn nhân hợp pháp.

Tại Bản tự khai của chị H thể hiện: Trong quá trình chung sống chị và anh C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C nghiện ma túy nên hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị và gia đình đã động viên nhiều lần nhưng anh C không cai được ma túy; Anh C thường xuyên đi làm xa nhà, không có việc làm ổn định, việc nuôi con chủ yếu là do chị H, vợ chồng đã lâu không chung sống cùng nhau; Ngoài ra, do nghiện ma túy nên anh C thường xuyên hỏi tiền chị H khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và căng thẳng. Anh C khai không đồng ý ly hôn với chị H. Tại Công văn số 892/UBND-VP ngày 13/11/2025 của UBND xã T, tỉnh Điện Biên thể hiện: Anh C thường xuyên vắng nhà (đi làm ở tỉnh Bắc Ninh), còn chị H là giáo viên tại xã N, tỉnh Điện Biên. Qua các tài liệu khác trong hồ sơ thể hiện, anh C đang bị tạm giam về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B. HĐXX nhận định mâu thuẫn giữa chị H và anh C là có thật; hiện tại chị H đã hết tình cảm với anh C; anh C có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đang bị tạm giam điều tra, tuy tố, xét xử,... nên không thể làm tròn trách nhiệm của mình để chăm sóc vợ, con, làm cho hôn nhân giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị H.

[2.2] Về con chung:

Chị H và anh C có 01 người con chung là cháu Ngô Minh K, sinh ngày 30/7/2018. Nguyện vọng của chị H và cháu K là chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung; anh C cũng có nguyện vọng nuôi con chung và ủy quyền cho anh trai là ông Ngô Văn T nuôi dưỡng con chung. Theo Công văn số 892/UBND-VP ngày 13/11/2025 của UBND xã T, tỉnh Điện Biên thể hiện chị H là giáo viên; theo tài liệu là bản ảnh biến động số dư tài khoản của chị H thì hàng tháng tiền lương của chị H khoảng 19.000.000 đồng, vì vậy chị H có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Hiện tại anh C đang bị tạm giam nên không có điều kiện nuôi dưỡng con chung, việc anh C ủy quyền cho anh trai nuôi dưỡng con chung là không đúng pháp luật và không đảm bảo sự phát triển của trẻ. Xét thấy, nguyện vọng của chị H và cháu K là phù hợp với thực tế, không trái với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của con chung, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung nếu anh được nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về quan hệ tài sản:

Chị H và anh C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả và nợ lấy về nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147/BLTTDS, chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng chị H là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Xét ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên và ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung vụ án nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273/BLTTDS;
  • - Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 71; Điều 58, Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H được ly hôn anh Ngô Hải C.
  2. Về con chung: Chị Lò Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ngô Minh K, sinh ngày 30/7/2018 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả và nợ lấy về: Không yêu cầu Toà án giải quyết
  5. Về án phí: Chị Lò Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị H và anh Ngô Hải C vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND khu vực 1 - Điện Biên;
  • - THADS tỉnh Điện Biên;
  • - UBND xã Thanh An;
  • - Các đương sự;
  • - Người bảo vệ QVLIHP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
 

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2026/HNGĐ-ST ngày 05/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger