|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 4 – 2025 V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Thanh Diện và bà Trần Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên tòa: bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Phương Lý – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 104/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Phạm Thị T, sinh năm 1983;
- Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- - Bị đơn: ông Mai Nam V, sinh năm 1969;
- Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn, bản tự khai, tại phiên hòa giải, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Bà và ông Mai Nam V có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn ngày 05/7/2004 tại UBND xã Q, huyện Q nay là thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Quá trình sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, không cùng quan điểm sống. Ông bà đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và sống không có hạnh phúc nên đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay bà không còn tình cảm với ông Mai Nam V nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V
Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Mai Đức T1, sinh ngày 23/3/2005 và Mai Thị Thu H, sinh ngày 10/10/2007. Sau khi ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi con là Mai Thị Thu H và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Riêng con Mai Đức T1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên ở với ai là tùy con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vợ chồng không có tài sản chung nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về phía bị đơn ông Mai Nam V: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến hòa giải nhiều lần nhưng ông Mai Nam V đều vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không thể tổ chức hòa giải được. Theo kết quả xác minh ngày 05/3/2025, Công an xã Q, thị xã B cho biết ông Mai Nam V có đăng ký thường trú tại thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình và Ủy ban nhân dân xã Q cung cấp thông tin là đã tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn liên quan đến việc bà Phạm Thị T yêu cầu ly hôn với ông V cho ông đầy đủ.
Ngày 06/3/2025, Toà án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập bà T, ông V đến phiên toà vào ngày 24/3/2025, nhưng ông V vắng mặt không có lý do nên Toà án phải hoãn phiên toà. Ngày 14/4/2025, Toà án mở phiên toà lần hai, tiếp tục triệu tập các bên đương sự đến tham gia phiên toà nhưng ông V vẫn vắng mặt.
Tại phiên toà:
- Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh G nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với ông Mai Nam V do mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và mong muốn được nuôi cháu Mai Thị Thu H vì từ nhỏ cháu đều sống cùng bà, được chăm sóc đầy đủ, phát triển tốt và cũng có mong muốn được ở với mẹ, bà không yêu cầu ông Mai Nam V phải cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu xem xét về tài sản chung.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- + Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn
- + Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Phạm Thị T; căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung là Mai Thị Thu H cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét; Về tài sản chung, không xem xét; Về án phí, áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Phạm Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Mai Nam V và giải quyết về con chung của vợ chồng, như vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Mai Nam V có nơi cư trú tại thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Bị đơn ông Mai Nam V đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Mai Nam V.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Mai Nam V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Quá trình chung sống bà T trình bày vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, không cùng quan điểm sống nên ông bà đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Bà T xác định bản thân không còn tình cảm gì với ông V, kiên quyết xin được ly hôn. Ông V biết bà T có nguyện vọng được ly hôn nhưng cũng không có hành động gì để hàn gắn, níu kéo tình cảm vợ chồng.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông V đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn có hạnh phúc, hai người ly thân đã lâu, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho bà T được ly hôn với ông V là phù hợp.
[3] Về quan hệ con chung: Bà Phạm Thị T và ông Mai Nam V có 02 con chung là Mai Đức T1, sinh ngày 23/05/2005 và Mai Thị Thu H, sinh ngày 10/10/2007. Bà T có nguyện vọng được nuôi con Mai Thị Thu H, còn con Mai Đức T1 đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu gì.
Xét thấy hiện nay cháu Mai Thị Thu H đã 17 tuổi, cháu sinh sống cùng mẹ từ trước đến nay và đang là học sinh cuối cấp trường P; bà T có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và có nguyện vọng được nuôi con. Đồng thời cháu H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung là Mai Thị Thu H cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của cháu H trong giai đoạn phát triển hiện nay của cháu; ông V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
[4] Về quan hệ tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà T không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: bà Phạm Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn để sung vào Ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào khoản tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Mai Nam V.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T, xử cho bà Phạm Thị Thanh ly H1 với ông Mai Nam V
- Về quan hệ con chung: bà Phạm Thị T và ông Mai Nam V có 02 con chung là Mai Đức T1, sinh ngày 23/3/2005 và Mai Thị Thu H, sinh ngày 10/10/2007. Sau khi bà T và ông V ly hôn, giao con chung là Mai Thị Thu H cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; ông Mai Nam V không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thanh C trách nhiệm nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào Ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003479 ngày 04 tháng 12 năm 2024. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Sau khi ly hôn, ông Mai Nam V có quyền và nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử chấp nhận cho ly hôn và giải quyết về con chung của vợ chồng.
