TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/KDTM-ST Ngày 10/02/2025 V/v Yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng dịch vụ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Kim Dung
Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Huy– Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Đào Linh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 170/2024/TLST-DS ngày 05/11/2024 về việc “Yêu cầu thanh toán nợ theo Hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 520/2024/QĐXX-KDTM ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST- KDTM ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T1.
Trụ sở: Số C đường N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hải T - Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Huy N, bà Tô Thị X, ông Trần Đăng N1 (Theo Giấy uỷ quyền số 04/GUQ-VTVcab ngày 10/02/2025).
Bị đơn: Công ty cổ phần T2
Trụ sở: Số C Đường F, Khu phố C, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Thu H.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 02 năm 2020, Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 13/10/2021 của nguyên đơn là Công ty Cổ phần T1) và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Quá trình ký kết và thực hiện Hợp đồng giữa hai bên.
Dựa trên nhu cầu và khả năng của hai bên, căn cứ Giấy ủy quyền ngày 01/11/2017 của Đài Phát thanh - Truyền hình Đ, theo đó, Công ty cổ phần T2 (Sau đây còn được gọi tắt là “Công ty BHV” hoặc “BHV) là đối tác liên kết thực hiện kênh ĐN9 được chủ động đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng với VTVcab về việc truyền dẫn phát sóng kênh ĐN9 VTVcab và BHV có ký kết và thực hiện một số hợp đồng như sau:
- Hợp đồng dịch vụ truyền dẫn phát sóng số 289/2017/HDDVTDPS/VTVcab- ĐN9 ký ngày 09/11/2017, theo Hợp đồng BHV thuê VTVcab truyền dẫn phát sóng Kênh truyền hình Tư vấn và mua sắm sản phẩm (Kênh ĐN9) do BHV cung cấp tín hiệu trên hệ thống truyền hình số toàn quốc (tín hiệu SD) và trên hệ thống truyền hình Analog tại tỉnh Đồng Nai của VTVcab từ 01/12/2017 đến hết thời hạn Hợp đồng. Thời hạn Hợp đồng: 01/12/2017 đến hết 30/11/2020.
Phí truyền dẫn năm thứ 1 (từ 01/12/2017 đến hết 30/11/2018) đã bao gồm thuế GTGT là 1.650.000.000 đồng trong đó:
- Phí truyền dẫn Kênh ĐN9 (tín hiệu SD) trên hệ thống truyền hình số toàn quốc là 1.320.000.000 đồng.
- Phí truyền dẫn Kênh ĐN9 trên hệ thống truyền hình Analog tại tỉnh Đồng Nai là 330.000.000 đồng.
Phí truyền dẫn năm thứ 2 (từ 01/12/2018 đến hết 30/11/2019) đã bao gồm thuế GTGT là 1.732. 500.000 đồng, trong đó:
- Phí truyền dẫn Kênh ĐN9 (tín hiệu SD) trên hệ thống truyền hình số toàn quốc là 1.386.000.000 đồng.
- Phí truyền dẫn Kênh ĐN9 trên hệ thống truyền hình Analog tại tỉnh Đồng Nai là 346.500 .000 đồng.
Phí truyền dẫn năm thứ 3 (từ 01/12/2019 đến hết 30/11/2020) đã bao gồm thuế GTGT là 1.905.750.000 đồng, trong đó:
- Phí truyền dẫn Kênh ĐN9 (tín hiệu SD) trên hệ thống truyền hình số toàn quốc là 1.524.600.000 đồng.
- Phí truyền dẫn Kênh ĐN9 trên hệ thống truyền hình Analog tại tỉnh Đồng Nai là 381.150. 000 đồng.
Biên bản chấm dứt hợp đồng 289 ký ngày 28/12/2018.
Hai bên đã ký Biên bản chấm dứt hợp đồng thống nhất chấm dứt trước thời hạn Hợp đồng số 289/2017/HDDVTDPS/VTVcab - ĐN9 kể từ ngày 01/01/2019.
- Hợp đồng cung cấp dịch vụ số 09/2017/HD CCDV/VTVcab – ĐN9 ký ngày 30/11/2017, BHV thuê đường truyền của VTVcab để truyền dẫn tín hiệu Kênh truyền hình ĐN9 từ phòng máy tại A Đ, B, thành phố Hồ Chí Minh đến phòng máy của VTVcab tại 3 N, B, Hà Nội. Thời hạn Hợp đồng: 01/12/2017 đến hết 30/11/2020.
Phí đường truyền năm thứ 1 (từ 01/12/2017 đến hết 30/11/2018) đã bao gồm thuế GTGT là 120.000.000 đồng .
Phí truyền dẫn năm thứ 2 trở đi (từ 01/12/2018 đến hết 30/11/2020) sẽ được quy định cụ thể tại phụ lục hợp đồng.
Biên bản chấm dứt hợp đồng 09 ký ngày 30/11/2018.
Hai bên đã ký Biên bản chấm dứt hợp đồng thống nhất chấm dứt trước thời hạn Hợp đồng số 09/2017/HDCCDV/VTVcab – ĐN9 kể từ ngày 01/12/2018.
2. Hành vi vi pham hợp đồng của BHV:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, VTVcab luôn nghiêm túc tuân thủ các điều khoản của hợp đồng. Tuy nhiên, BHV đã vi phạm nghĩa vụ của mình và không khắc phục, mặc dù VTVcab đã nhiều lần gửi công văn đề nghị thanh toán (như hồ sơ gửi kèm theo đơn khởi kiện).
Ngay từ kỳ thanh toán đầu tiên, BHV đã không thanh toán theo dúng thời gian được quy định tại hai Hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Cụ thể:
Thời hạn thanh toán phí truyền dẫn của giai đoạn từ 01/12/2017 đến hết 31/12/2017 (137.500.000 đồng chậm nhất đến ngày 30/12/2017 BHV phải thanh toán nhưng tới 28/2/2018 BHV mới thanh toán.
Thời hạn thanh toán phí đường truyền của giai đoạn từ 01/12/2017 đến hết 31/12/2017 (10.000.000 đồng) là chậm nhất đến ngày 30/12/2017 BHV phải thanh toán nhưng tới 27/02/2018 BHV mới thanh toán.
Các kỳ thanh toán tiếp theo, BHV đều thanh toán chậm hơn so với thời gian được quy định tại Hợp đồng.
Mặc dù đã được VTVcab gia hạn thanh toán rất nhiều lần nhưng kể từ sau ngày 30/07/2018 BIV không có động thái thanh toán công nợ cho VTVcab.
BHV luôn đưa ra các nguyên nhân khó khăn trên thị trường homeshopping ở Việt Nam, đồng thời nguyên nhân chính BHV muốn nhấn mạnh ở đây chính là việc VTVcab thay đổi vị trí phát sóng kênh ĐN9 trên hệ thống truyền dẫn của VTVcab (việc này hai bên đã trao đổi rất nhiều lần thông qua các công văn từ ngày 02/05/2018 đến ngày 3/7/2018) để trì hoãn việc thanh toán.
Ngày 25/11/2018, BHV gửi công văn số 2511/CV-BHV đề nghị VTVcab xem xét và đồng ý giảm chí phí phát sóng cho BHV với mức đề xuất giảm 30% tuy nhiên VTVcab không đồng ý với để xuất trên và đã có công văn phúc đáp.
Ngày 29/11/2018, BHV gửi công văn 2911/CV-BHV về việc ngưng truyền dẫn kênh ĐN9 trên hệ thống truyền hình VTVcab kể từ ngày 01/1/2019.
Ngày 30/11/2018, VTVcab gửi công văn số 1558a phúc đáp công văn 2911/CV/BHV đồng ý với đề nghị của BV tại công văn 2911.
BHV đã ký hai Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ lần lượt tại các ngày 31/12/2018 và 01/04/2019 xác nhận số tiền còn phải thanh toán cho VTVcab đã bao gồm thuế GTGT là 881.875.000 đồng.
Ngày 12/04/2019, BHV gửi công văn số 1204/CV-BHV- VTVcab đề xuất xin giãn nợ.
Ngày 15/04/2019, V gửi công văn 386a về việc gia hạn thời gian thành toán nợ.
Ngày 24/9/2019, BHV gửi công văn số 2409/CV-BV đề xuất được giãn nợ để BHV có thêm thời gian tạo nguồn thu thanh toán cho VTVcab.
Công ty cổ phần T1 đã nộp đơn khởi kiện Công ty T2 về tranh chấp giữa hai bên.
Nay Công ty Cổ phần T1 yêu cầu cụ thể:
- Yêu cầu Công ty cổ phần T2 nghiêm túc thực hiện theo những thỏa thuận trong các hợp đồng: Hợp đồng dịch vụ truyền dẫn phát sóng số 289/2017/HĐDVTDPS/VTVcab ĐN9 ký ngày 09/11/2017; Hợp đồng cung cấp dịch vụ số 09/2017/HĐCCDV/VTVcab - ĐN9 ký ngày 30/11/2017.
- Yêu cầu Công ty cổ phần T2 thanh toán toàn bộ số tiền 191.875.000 đồng.
- Yêu cầu Công ty cổ phần T2 thanh toán tiền lãi chậm trả theo Hợp đồng tạm tính từ ngày chậm thanh toán cho tới ngày 08/10/2024 là 216.248.400 đồng (hai bên đã thỏa thuận mức lãi chậm trả 0,06%/ngày tính trên số tiền chậm trả và số ngày chậm trả, tuy nhiên VTVcab đã tính lãi chậm trả theo lãi suất 0,054%/ngày để phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015: lãi suất không quá 20%/năm).
Tổng số tiền VTVcab yêu cầu Công ty T2 thanh toán là:
191.875.000 đồng + 216.248.400 đồng = 408.123.400 đồng.
Tuy nhiên ngày 22/11/2024 Công ty Cổ phần T1 đã nhận được công văn số 2211/2024/CV/BHV của Công ty cổ phần T2 về việc đề xuất lộ trình thanh toán và cam kết thanh toán dứt điểm khoản nợ.
Công ty Cổ phần T1 chấp nhận đề xuất của Công ty cổ phần T2 về việc Công ty cổ phần T2 chỉ thanh toán công nợ gốc là 191.875.000 đồng cho nguyên đơn và không yêu cầu các khoản lãi và chi phí khác.
Nay Công ty Cổ phần T1 đồng ý cho Công ty cổ phần T2 thanh toán nợ gốc 191.875.000 đồng.
Về lộ trình thanh toán nợ mà Công ty cổ phần T2 đề xuất thì Công ty cổ phần T1 không chấp nhận, đề nghị Công ty cổ phần T2 thanh toán số tiền nợ gốc trong một lần cho Công ty cổ phần T1.
Ngoài ra Công ty Cổ phần T1 không còn ý kiến khác.
Bị đơn là Công ty Cổ phần T2 được Tòa án tống đạt nhiều lần các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt và gửi văn bản ngày 22/11/2024 tới Toà án trình bày:
Tính đến nay Công ty CP T2 vẫn còn nợ Công ty cổ phần T1 191.875.000 đồng.
Vì tình hình kinh doanh thật sự rất khó khăn, đặc biệt là sau đại dịch Covid, Công ty Cổ phần T2 đã không thể tiếp tục tồn tại được nên đã chính thức đăng ký tạm ngừng hoạt động với Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H 2 lần:
- Lần 1: Ngày 23/12/2022 – Giấy xác nhận của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H số 813622/22.
- Lần 2: Ngày 14/12/2023– Giấy xác nhận của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H số 925512/23.
Hiện nay Công ty CP T2 đang tiến hành gửi hồ sơ xin mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù Công ty đã ngừng hoạt động gần 03 năm nay nhưng vì trách nhiệm với khoản nợ và chia sẻ những khó khăn cùng Tổng công ty.
Với vai trò người đại diện pháp luật của Công ty Cổ phần T2, bằng tiền cá nhân người đại diện pháp luật của Công ty sẽ cố gắng vay mượn để thanh toán cho Quý Tổng công ty theo đề xuất như sau:
- Chỉ thanh toán phần công nợ là: 191,875,000 đồng.
- Lộ trình thanh toán:
- Tháng 12/2024 thanh toán số tiền 30,000,000 đồng.
- Tháng 01/2025 thanh toán số tiền 30,000,000 đồng.
- Tháng 02/2025 thanh toán số tiền 30,000,000 đồng.
- Tháng 03/2025 thanh toán số tiền 30,000,000 đồng.
- Tháng 04/2025 thanh toán số tiền 30,000,000 đồng.
- Tháng 05/2025 thanh toán số tiền 20,000,000 đồng.
- Tháng 06/2025 thanh toán số tiền 21,875,000 đồng.
- Tổng số tiền: 191,875,000 đồng.
Công ty Cổ phần T2 thật sự đã thể hiện hết sự chân thành và trách nhiệm của Công ty Cổ phần T2 đối với Quý Tổng Công ty nên Công ty Cổ phần T2 cũng rất mong Quý Tổng Công ty thấu hiểu và chia sẻ với Công ty Cổ phần T2 để hai bên thanh toán dứt điểm công nợ. Trong trường hợp Quý Công ty không chấp thuận thiện chí trả nợ theo phương án thanh toán nợ như đã nêu trên, thì Công ty Cổ phần T2 chỉ biết tham gia tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để tiến hành giải quyết khoản nợ trên theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả một lần số nợ gốc là: 191.875.000 đồng, xin rút không yêu cầu trả lãi 216.248.400 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Các hợp đồng dịch vụ mà nguyên đơn và bị đơn đã kí không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật, Bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán, nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc là 191.875.000 đồng. Các đương sự phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là Công ty cổ phần T2 nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, việc vắng mặt của bị đơn được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra ý kiến chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
Công ty Cổ phần T1 (sau đây gọi là Nguyên đơn) yêu cầu Công ty cổ phần T2 (sau đây gọi là Bị đơn) trả số tiền gốc 191.875.000 đồng và lãi 216.248.400 đồng của Hợp đồng dịch vụ truyền dẫn phát sóng số 289/2017/HĐDVTDPS/VTVcab ĐN9 ký ngày 09/11/2017 và Hợp đồng cung cấp dịch vụ số 09/2017/HĐCCDV/VTVcab - ĐN9 ký ngày 30/11/2017.
Bị đơn có văn bản xác nhận còn nợ Nguyên đơn số tiền 191.875.000 đồng và xin trả dần từ tháng 12 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025 do Bị đơn thực sự khó khăn, sau đại dịch Covid nên đã xin tạm ngừng hoạt động.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, Nguyên đơn cũng chỉ yêu cầu Bị đơn trả số tiền gốc 191.875.000 đồng và yêu cầu thanh toán một lần số nợ gốc cho Nguyên đơn, xin rút không yêu cầu trả số tiền lãi 216.248.400 đồng.
Xét việc xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi 216.248.400 đồng của Nguyên đơn là tự nguyện, không trái pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về phần lãi 216.248.400 đồng.
Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về số tiền nợ gốc, buộc Bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 191.875.000 đồng cho Nguyên đơn.
[3]. Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn số tiền 191.875.000 đồng nên Bị đơn phải chịu án phí 9.593.750 đồng.
Nguyên đơn không phải chịu án phí, được nhận lại 10.160.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0030807 ngày 05/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.
[5]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35, điểm b khoản 1 điều 39; khoản 2 Điều 244; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 74; Điều 75; Điều 78; Điều 79; Điều 80; Điều 83; Điều 85; Điều Điều 87; Điều 306 của Luật thương mại năm 2005.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần T1 đối với Công ty cổ phần T2 về việc không yêu cầu giải quyết về số tiền lãi 216.248.400 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần T1 đối với Công ty cổ phần T2 về việc “Yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng dịch vụ” đối với số tiền gốc 191.875.000 đồng.
Công ty cổ phần T2 phải trả cho Công ty Cổ phần T1 số nợ gốc là 191.875.000 đồng.
Kể từ ngày Công ty Cổ phần T1 có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty cổ phần T2 chưa thi hành thì hàng tháng Công ty cổ phần T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành.
- Về án phí: Công ty cổ phần T2 phải chịu án phí 9.593.750 đồng.
Công ty Cổ phần T1 không phải chịu án phí, được nhận lại 10.160.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0030807 ngày 05/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.
- Về quyền kháng cáo: Công ty Cổ phần T1 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty cổ phần T2 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tài Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Thị Lai |
Bản án số 08/2025/KDTM-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 08/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng dịch vụ
