|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/KDTM-PT
Ngày 28 tháng 11 năm 2025
Về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh, bà Phan Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thiều Thanh Bội Giao – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lưu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 07/2025/TLPT-KDTM ngày 06/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 03/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2025/QĐ-PT ngày 15/10/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1); trụ sở: số G T, phường C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn T, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S – chi nhánh A; địa chỉ: số A, đường T, khóm B, phường L, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1: Bà Nguyễn Thị T2, ông Trần Hữu T3, ông Châu Thanh T4, ông Tô Thanh H1, ông Trần Chí T5, ông Nguyễn Trịnh Anh T6, ông Phạm Thanh P, chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP S, là người được ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 17/12/2024) (ông Nguyễn Trịnh Anh Tó có mặt; bà Nguyễn Thị T2, ông Trần Hữu T3, ông Châu Thanh T4, ông Tô Thanh H1, ông Trần Chí T5, ông Phạm Thanh P vắng mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH X; trụ sở: ấp L, xã L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy C, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1958; nơi cư trú: số B, ấp A, xã H, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Duy C, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp L, xã L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Phan Thị Bảo N, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp B, xã B, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số A, đường T, phường L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp P, xã C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M: ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1983; nơi cư trú: số D, đường Q, khóm B, phường B, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 12/02/2025) (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Tuyết M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) trình bày:
Ngày 27/02/2023, Công ty TNHH S1 - Chi nhánh A ký hợp đồng tín dụng số 043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 với nội dung: hạn mức vay số vốn 23.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh lương thực, nông sản. Thực hiện hợp đồng S1 chi nhánh A đã giải ngân 23.000.000.000 đồng cho Công ty TNHH X1 khế ước nhận nợ sau:
Số 001-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 28/02/2023, số 002-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 22/3/2023, số 003-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 24/3/2023, số 004-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 03/4/2023, số 005-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 04/4/2023, số 006-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 05/4/2023, số 007-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 06/4/2023. Thời hạn vay 6 tháng, lãi vay trong kỳ hạn đầu tiên 14%/năm, cố định trong 3 tháng đầu.
Để đảm bảo nghĩa vụ cho Công ty TNHH X, ông Nguyễn Duy C đã thế chấp cho S1 quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số 037/2022/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 07/3/2022 và hợp đồng thế chấp số 244/2021/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 15/12/2021 tài sản thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số 26; tờ bản đồ số 15, diện tích 200m²; tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03666 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/11/2019 cho ông Nguyễn Duy C.
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số 209; tờ bản đồ số 15, diện tích 142,8m²; tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03665 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/11/2019 cho ông Nguyễn Duy C.
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số 87; tờ bản đồ số 45, diện tích 1100m²; tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS15665 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 24/07/2020, được Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Duy C ngày 19/01/2022.
Trong quá trình vay vốn phía Công ty TNHH X2. Ngân hàng TMCP S yêu cầu Công ty X3 toàn bộ số nợ còn lại của hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 043/2023/HDHM- PN/SHB.130700 ngày 27/02/2023 và 7 khế ước nhận nợ đã ký cho Ngân hàng TMCP S (S1), tạm tính đến ngày 05/12/2024 là 23.138.211.135 đồng, trong đó nợ gốc là 19.400.000.000 đồng, nợ lãi 3.738.211.135 đồng và toàn bộ nợ lãi phát sinh từ ngày 06/12/2024 cho đến khi khách hàng thanh toán toàn bộ khoản nợ vay tại ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn T7 trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của Ngân hàng về số vốn nhưng xin số tiền lãi sẽ trả trong vòng 4 tháng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Bảo N trình bày: Tôi có làm hợp đồng thuê quyền sử dụng đất địa chỉ: số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; diện tích kho là 345m², với ông Nguyễn Duy C theo hợp đồng thuê nhà ngày 25/3/2021 đến nay, tôi thuê đất trên để kinh doanh mua bán đồ gỗ hàng tháng đều trả tiền thuê cho ông C. Nay Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vay với ông C tôi không có ý kiến. Đối với phần đất đang thuê nêu trên tôi yêu cầu tiếp tục thuê để kinh doanh mua bán, khi nào ông C không trả nợ cho Ngân hàng thì đến giai đoạn thi hành án phát mãi tài sản tôi sẽ xin ưu tiên mua lại quyền sử dụng đất nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Tuyết M trình bày: ngày 24/01/2022 bà và ông Nguyễn Duy C có ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất diện tích 1100m², thửa số 87 tờ bản đồ số 45 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS15665 cấp cho ông Nguyễn Duy C ngày 19/01/2022 tại phường M, thành phố L, với giá thuê 3.500.000đồng/1100m²/năm, thời hạn thuê 7 năm và bà đã trả đủ tiền thuê nhận đất. Yêu cầu được tiếp tục duy trì hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đối với diện tích 1100m² nói trên.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 03/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- An Giang tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Buộc Công ty TNHH X2 nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền:
- Vốn là 100.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 159.336.959 đồng, lãi quá hạn 4.433.471 đồng, lãi phạt 6.671.076 đồng theo khế ước nhận nợ số số 001-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 28/02/2023;
- Vốn là 1.000.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 372.529.959 đồng, lãi quá hạn 44.334.216 đồng, lãi phạt 12.584.760 đồng theo khế ước nhận nợ số 002-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 22/3/2023;
- Vốn là 2.500.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 490.506.743 đồng, lãi quá hạn 110.835.540 đồng, lãi phạt 11.918.508 đồng theo khế ước nhận nợ số 003-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 24/3/2023;
- Vốn là 4.300.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 861.653.366 đồng, lãi quá hạn 177.489.756 đồng, lãi phạt 20.913.840 đồng theo khế ước nhận nợ số 004-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 03/4/2023;
- Vốn là 4.200.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 862.047.252 đồng, lãi quá hạn 173.362.044 đồng, lãi phạt 21.270.960 đồng theo khế ước nhận nợ số 005-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 4/4/2023;
- Vốn là 4.100.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 842.263.625 đồng, lãi quá hạn 169.234.704 đồng, lãi phạt 20.794.800 đồng theo khế ước nhận nợ số 006-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 5/4/2023;
- Vốn là 3.200.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 657.955.005 đồng, lãi quá hạn 132.085.296 đồng, lãi phạt 16.254.168 đồng theo khế ước nhận nợ số 007-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 6/4/2023.
Kể từ ngày 03/7/2025 Công ty TNHH X4 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 65/2021/HDHM-CN/SHB.131501 ngày 8/12/2021; Khế ước nhận nợ số 001-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 28/02/2023; Khế ước nhận nợ số 002-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 22/3/2023; Khế ước nhận nợ số 003-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 24/3/2023; Khế ước nhận nợ số 004-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 03/4/2023; Khế ước nhận nợ số 005-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 04/4/2023; Khế ước nhận nợ số 006-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 05/4/2023; Khế ước nhận nợ số 007-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 06/4/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hợp Công ty TNHH X5 trả được nợ, hoặc trả nợ chưa đầy đủ thì Ngân hàng TMCP S đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 037/2022/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 07/3/2022 và hợp đồng thế chấp số 244/2021/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 15/12/2021 giữa ông Nguyễn Duy C với Ngân hàng TMCP S; tài sản thế chấp là:
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số: 26; tờ bản đồ số: 15; Địa chỉ: phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03666 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/11/2019 cho ông Nguyễn Duy C.
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 209; tờ bản đồ số: 15; Địa chỉ: phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03665 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/11/2019 cho ông Nguyễn Duy C.
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 87; tờ bản đồ số: 45, diện tích 1100m²; tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS15665 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 24/07/2020 được Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Duy C ngày 19/01/2022.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/7/2025 bà Nguyễn Tuyết M do ông Nguyễn Văn P1 đại diện kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, duy trì hợp đồng thuê đất giữa bà M với ông C đối với diện tích đất 1100m² thửa đất số 87; tờ bản đồ số 45, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS15665 được xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Duy C ngày 19/01/2022.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà Nguyễn Tuyết M có gửi văn bản ý kiến ngày 24/11/2025, đề nghị hủy bản án sơ thẩm do vi phạm tố tụng.
Nguyên đơn không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Tuyết M kháng cáo trong hạn luật định nên được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng quy định. Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật. Bà Nguyễn Tuyết M kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới nên không có cơ sở xem xét. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố Tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Tuyết M, giữ nguyên Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 03/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bà Nguyễn Tuyết M do ông Nguyễn Văn P1 đại diện vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, ngày 18/7/2025 bà M nhận được bản án, ngày 21/7/2025 bà M kháng cáo là trong hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Tuyết M có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn do ông Nguyễn Văn Tam đại D theo ủy quyền, ông Nguyễn Duy C, bà Phan Thị Bảo N được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Do Công ty TNHH X2 đối với Ngân hàng thương mại cổ phần S nên Ngân hàng S1 khởi kiện và cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của S1; trường hợp Công ty TNHH X5 trả được nợ, hoặc trả nợ chưa đầy đủ thì Ngân hàng TMCP S đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 037/2022/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 7/3/2022 và hợp đồng thế chấp số 244/2021/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 15/12/2021 giữa ông Nguyễn Duy C với Ngân hàng TMCP S là có căn cứ. Đối với yêu cầu khởi kiện của S1 không có kháng cáo nên không xem xét.
[2.2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Tuyết M:
Trong các tài sản Công ty TNHH X6 cho S1 để đảm bảo nghĩa vụ, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS15665; thửa đất số 87, tờ bản đồ số 45, diện tích đất 1100m² được xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Duy C ngày 19/01/2022. Bà M cho rằng bà có hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Duy C giá 3.500.000đồng/năm, thời hạn thuê 7 năm từ ngày 24/01/2022, hai bên có lập hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, bà M có đơn khởi kiện yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, quá trình tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm đã có thông báo cho bà M nộp tiền tạm ứng án phí, gửi cho người đại diện của bà M là ông Nguyễn Văn P1 nhận trực tiếp (BL 213-215) nhưng bà M không thực hiện việc nộp tạm ứng án phí theo quy định, do đó cấp sơ thẩm không xem xét và dành quyền cho bà M khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác là có căn cứ.
Bà M kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, duy trì hợp đồng thuê đất giữa bà M với ông C đối với diện tích đất 1100m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cho ông Nguyễn Duy C ngày 19/01/2022 là không có cơ sở. Tại cấp phúc thẩm bà M cũng không cung cấp được chứng cứ mới, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bà M phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Tuyết M.
Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 03/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Buộc Công ty TNHH X2 nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền:
- Vốn là 100.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 159.336.959 đồng, lãi quá hạn 4.433.471 đồng, lãi phạt 6.671.076 đồng theo khế ước nhận nợ số số 001-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 28/02/2023;
- Vốn là 1.000.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 372.529.959 đồng, lãi quá hạn 44.334.216 đồng, lãi phạt 12.584.760 đồng theo khế ước nhận nợ số 002-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 22/3/2023;
- Vốn là 2.500.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 490.506.743 đồng, lãi quá hạn 110.835.540 đồng, lãi phạt 11.918.508 đồng theo khế ước nhận nợ số 003-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 24/3/2023;
- Vốn là 4.300.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 861.653.366 đồng, lãi quá hạn 177.489.756 đồng, lãi phạt 20.913.840 đồng theo khế ước nhận nợ số 004-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 03/4/2023;
- Vốn là 4.200.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 862.047.252 đồng, lãi quá hạn 173.362.044 đồng, lãi phạt 21.270.960 đồng theo khế ước nhận nợ số 005-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 04/4/2023;
- Vốn là 4.100.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 842.263.625 đồng, lãi quá hạn 169.234.704 đồng, lãi phạt 20.794.800 đồng theo khế ước nhận nợ số 006-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 05/4/2023;
- Vốn là 3.200.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 02/7/2025 lãi trong hạn 657.955.005 đồng, lãi quá hạn 132.085.296 đồng, lãi phạt 16.254.168 đồng theo khế ước nhận nợ số 007-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 06/4/2023
Kể từ ngày 03/7/2025 Công ty TNHH X4 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 65/2021/HDHM-CN/SHB.131501 ngày 08/12/2021; Khế ước nhận nợ số 001-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 28/02/2023; Khế ước nhận nợ số 002-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 22/3/2023; Khế ước nhận nợ số 003-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 24/3/2023; Khế ước nhận nợ số 004-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 03/4/2023; Khế ước nhận nợ số 005-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 04/4/2023; Khế ước nhận nợ số 006-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 05/4/2023; Khế ước nhận nợ số 007-043/2023/HĐHM-PN/SHB.130700 ngày 06/4/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hợp Công ty TNHH X5 trả được nợ, hoặc trả nợ chưa đầy đủ thì Ngân hàng TMCP S đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 037/2022/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 07/3/2022 và hợp đồng thế chấp số 244/2021/HĐTC-PN/SHB.130700 ngày 15/12/2021 giữa ông Nguyễn Duy C với Ngân hàng TMCP S; tài sản thế chấp là:
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số: 26; tờ bản đồ số: 15; Địa chỉ: phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 970048 số vào sổ cấp GCN CS03666 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/11/2019 cho ông Nguyễn Duy C.
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 209; tờ bản đồ số: 15; Địa chỉ: phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 970047 số vào sổ cấp GCN CS03665 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/11/2019 cho ông Nguyễn Duy C.
- Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 87; tờ bản đồ số: 45; Địa chỉ: phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 966221 số vào sổ cấp GCN CS15665 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 24/07/2020 được Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Duy C ngày 19/01/2022.
- Chi phí tố tụng: 2.000.000 đồng Công ty TNHH X7 chịu. Công ty TNHH X2 hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 2.000.000 đồng.
- Án phí KDTM: Công ty TNHH X7 chịu 132.568.400 đồng.
Ngân hàng TMCP S được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 65.569.000₫ theo biên lai số 0023932 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 – An Giang.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Tuyết M phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được khấu trừ vào 2.000.000₫ (hai triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng số 0000061 ngày 28 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phượng |
Bản án số 08/2025/KDTM-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 08/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
