trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Số: 08/2025/HSST

Ngày: 22 - 01- 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Bà Lương Thị Thu An

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Hồng Huế – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng– Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXX-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 và Thông báo số 08/2024/TB-TA ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc thay đổi thời gian xét xử đối với bị cáo:

NGUYỄN CHINH, sinh ngày 15/5/1988 tại Ninh Thuận; Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Thôn G, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông T (không rõ nhân thân lai lịch) và bà Nguyễn C, sinh năm 1968; Vợ Trần Thanh T1, sinh năm 1985; Có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2024 cho đến nay.

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH MTV T4; địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước

Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Văn V– Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH D; địa chỉ: C Công trường chợ L, đường L, phường A, Quận C, TP ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Phong T2– Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)

Người làm chứng đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Lê Quang T3, sinh năm 1978; địa chỉ: Xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Phước H, sinh năm 2001; địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 06/09/2024, Nguyễn C1 mượn xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, biển số 51G-733.90 do Công ty D là chủ sở hữu để sử dụng. Sau đó, C1 điều khiển xe ô tô trên đến quán N, địa chỉ: Khu phố E, phường H, thị xã C ăn nhậu cùng với anh Nguyễn Phước H. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 chở anh H đi từ quán N về trụ sở Công ty TNHH D, địa chỉ: Khu Công nghiệp C thuộc khu phố B, phường T, thị xã C.

C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 lưu thông trên đường Q hướng phường H đi phường T, đến cổng Khu công nghiệp C rẽ phải đi vào trong Khu công nghiệp C. Cùng lúc này, anh Lê Quang T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-057.85 lưu thông trên đường Q hướng phường T đi phường H, đến cổng Khu công nghiệp C rẽ trái đi vào trong Khu công nghiệp C đến Công ty S. Lúc này, anh T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-057 lưu thông trên đường trục chính Khu công nghiệp C đi về Công ty S còn C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 lưu thông phía sau cùng chiều. C1 mở đèn tín hiệu để xin vượt lên trước xe ô tô tải biển số 93C-057.85 nhưng không vượt được. Do đã uống rượu, C1 suy nghĩ anh T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-057.85 ép không cho C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 vượt lên trước nên bực tức nên đuổi theo phía sau.

Khi anh T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-057.85 đến trước cổng Công ty S thì dừng lại chờ bảo vệ mở cổng để vào Công ty. Lúc này, C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 đến, dừng lại gần xe ô tô tải biển số 93C-057.85. C1 xuống xe chạy đến chửi và đe dọa đánh anh T3 nên anh T3 bỏ chạy vào trong Công ty S rồi đóng cổng lại. C1 cầm điện thoại di động của anh H để trên xe ô tô biển số 51G-733.90 đập bể kính chắn gió phía trước cabin và mặt kính cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bên trái của xe ô tô tải biển số 93C-057.85. C1 tiếp tục dùng tay bẻ gãy, đập bể 01 gương chiếu hậu phía trái và 02 gương chiếu hậu phía bên phải của xe ô tô tải biển số 93C-057.85. Anh H nhìn thấy thì chạy đến can ngăn không cho C1 đập phá xe ô tô tải biển số 93C-057.85. Sau đó, C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 chở anh H về Công ty TNHH D ngủ. Khi C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 bỏ đi thì va chạm với phần hông thùng xe bên phải của xe ô tô tải biển số 93C-057.85 làm hư hỏng phần hông xe bên trái của xe ô tô biển số 51G-733.90. Lúc này, Anh T3 gọi điện thoại thông báo anh Mai Văn V là chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 93C-057.85, biết việc xe bị đập phá. Sau đó, anh V và anh T3 đến Công an phường T trình báo sự việc.

Bản kết luận định giá tài sản số: 56/KLĐG-HĐĐGTS, ngày 13/9/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã C xác định:

  • Trị giá kính chắn gió phía trước cabin của xe ô tô tải biển số 93C-057.85 đã qua sử dụng tại thời điểm bị đập phá là 5.000.000 đồng.
  • Trị giá cụm đèn chiếu sáng và đèn xi nhan phía trước, bên trái của xe ô tô tải biển số 93C-057.85 đã qua sử dụng tại thời điểm bị đập phá là 4.500.000 đồng.
  • Trị giá gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô tải biển số 93C-057.85 đã qua sử dụng tại thời điểm bị đập phá là 1.200.000 đồng.
  • Trị giá cụm gương chiếu hậu bên phải (gồm: 02 gương) của xe ô tô tải biển số 93C-057.85 đã qua sử dụng tại thời điểm bị đập phá là 2.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 13.200.000 đồng.

* Về tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cục nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 thanh nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có dấu vết sơn; 01 hộp giấy niêm phong bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, bằng thủy tinh; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen. Các vật chứng trên đã chuyển sang chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành quản lý theo quy định.

Đối với 01 xe ô tô tải biển số 93C-057.85 do Công ty TNHH MTV T4 làm chủ sở hữu và 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, biển số 51G-733.90 do Công ty TNHH D làm chủ sở hữu. Các phương tiện trên có giấy tờ hợp pháp. Sau khi làm rõ nội dung vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo C1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Bị hại không còn yêu cầu nào khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Ngoài ra, Nguyễn C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 do Công ty TNHH D là chủ sở hữu đã va quẹt với xe ô tô tải biển số 93C-057.85 gây hư hỏng phần gương chiếu hậu và cửa trước bên phải của xe ô tô biển số 51G-733.90. Tuy nhiên, Công ty không yêu cầu C1 phải bồi thường phần thiệt hại của xe ô tô biển số 51G-733.90 bị hư hỏng nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Bản cáo trạng số 124/CT-VKSCT ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành truy tố đối với bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành: Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành rút truy tố đối với bị cáo tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất côn đồ, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn C1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điều 99 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 00 ngày 06/09/2024, Nguyễn C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 đi từ quán N, địa chỉ: Khu phố E, phường H, thị xã C về trụ sở Công ty TNHH D, địa chỉ: Khu Công nghiệp C thuộc khu phố B, phường T, thị xã C. Khi lưu thông trên đường Q hướng phường H đi phường T, đến cổng Khu công nghiệp C rẽ phải đi vào trong Khu công nghiệp C. Lúc này, anh Lê Quang T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-057 lưu thông trên đường trục chính Khu công nghiệp C đi về Công ty S, C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 lưu thông phía sau cùng chiều. C1 mở đèn tín hiệu để xin vượt lên trước xe ô tô tải biển số 93C-057.85 nhưng không vượt được. Do đã uống rượu, C1 suy nghĩ anh T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-057.85 ép không cho C1 điều khiển xe của C1 vượt lên trước nên C1 bực tức nên đuổi theo phía sau.

Khi anh T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-057.85 đến trước cổng Công ty S thì dừng lại chờ bảo vệ mở cổng để vào Công ty. Lúc này, C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 đến, C1 dừng xe lại gần xe ô tô tải biển số 93C-057.85. C1 xuống xe đi đến chửi và đe dọa đánh anh T3 nên anh T3 bỏ chạy vào trong Công ty S rồi đóng cổng lại. C1 cầm điện thoại di động của anh Nguyễn Phước H để trên xe ô tô biển số 51G-733.90 đập bể kính chắn gió phía trước cabin và mặt kính cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bên trái của xe ô tô tải biển số 93C-057.85. C1 tiếp tục dùng tay bẻ gãy, đập bể 01 gương chiếu hậu phía trái và 02 gương chiếu hậu phía bên phải của xe ô tô tải biển số 93C-057.85.

Bản kết luận định giá tài sản số: 56/KLĐG-HĐĐGTS, ngày 13/9/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã C xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 13.200.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 124/CTr-VKS, ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cáo trạng số 124/CT-VKSCT ngày 20/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa xác định khi lưu thông trên đường giữa bị cáo và anh T3 có xảy ra va chạm dẫn đến cãi nhau nên bị cáo đuổi theo xe anh T3 đập phá. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành rút lại nội dung truy tố bị cáo với tình tiết “Phạm tội có tính chất côn đồ” là đúng quy định. Do vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Qua đó, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo giáo dục, thành người có ích cho xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng:

01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cục nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 thanh nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có dấu vết sơn; 01 hộp giấy niêm phong bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, bằng thủy tinh. Cần tịch thu tiêu tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen là tài sản của anh Nguyễn Phước H, anh H không tham gia đập phá xe cùng C1 nên trả lại cho anh H.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo C1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Bị hại không còn yêu cầu nào khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Ngoài ra, Nguyễn C1 điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 do Công ty TNHH D là chủ sở hữu đã va quẹt với xe ô tô tải biển số 93C-057.85 gây hư hỏng phần gương chiếu hậu và cửa trước bên phải của xe ô tô biển số 51G-733.90. Tuy nhiên, Công ty không yêu cầu C1 phải bồi thường phần thiệt hại của xe ô tô biển số 51G-733.90 bị hư hỏng nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

[6] Các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này, xác định Nguyễn C1 sau khi uống rượu, bia đã điều khiển xe ô tô biển số 51G-733.90 tham gia giao thông trên đường Q và đường trong Khu Công nghiệp C thuộc phường T, thị xã C có nồng độ còn trong máu, kết quả 48.45 mmol/l máu tương đương với 223,2 miligam/100 ml máu. Hành vi của C1 đã vi phạm “Điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu”, quy định tại điểm a, khoản 10, Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ). Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ đề nghị Đ Công an thị xã C hồ sơ xử lý vi phạm hành vi đối với C1.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn C1 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản".
  2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn C1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cục nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 thanh nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có dấu vết sơn; 01 hộp giấy niêm phong bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, bằng thủy tinh.

    Trả lại cho anh Nguyễn Phước H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

    Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn C1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thành Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HSST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chinh - Cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger