Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HSST.

Ngày: 24/11/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường - Cán bộ tư pháp.

Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Giáo viên nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HSST ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Minh V, sinh ngày 29/9/2006; CCCD số: [...]; Cấp ngày 16/12/2021; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã V, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Quách Thị V1. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2025 đến nay hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Bắc Ninh, Công an tỉnh B; có mặt.
  2. Lăng Văn H, sinh ngày 22/9/2006; CCCD số: [...]; Cấp ngày 22/11/2021; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Y, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lăng Văn T và bà Triệu Thị B; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2025 đến nay hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Bắc Ninh, Công an tỉnh B; có mặt.
  3. Xa Khánh D, sinh ngày 01/6/2008; CCCD số: [...]; Cấp ngày 05/11/2022; nơi ĐKHKTT: xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Xa Văn T1 và bà Hà Thị T2; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2025 đến ngày 14/8/2025, được thay thế biện pháp Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.
  4. Vi Thanh T3, sinh ngày 15/5/2007; CCCD số: [...]; Cấp ngày 05/05/2022; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã T, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn T4 và bà Lý Thị T5; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2025 đến nay hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Bắc Ninh, Công an tỉnh B; có mặt.
  5. Dương Hữu Quang V2, sinh ngày 17/8/2006; CCCD số: [...]; Cấp ngày 24/5/2023; nơi ĐKHKTT: khối phố H, xã B, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Hữu Đ và bà Hoàng Thị S; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2025 đến nay hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Bắc Ninh, Công an tỉnh B; có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Xa Khánh D: ông Xa Văn T1 và bà Hà Thị T2; Cùng trú tại: xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vi Thanh T3: ông Vi Văn T4 và bà Lý Thị T5; Cùng trú tại: thôn N, xã T, tỉnh Lạng Sơn (Có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo Lăng Văn H, Xa Khánh D, Dương Hữu Quang V2 do Toà án chỉ định: Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Văn H1, Trung tâm T9. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Vi Thanh T3 do Toà án chỉ định: Trợ giúp viên pháp lý Trần Văn T6, Trung tâm T9. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Ông Xa Văn T1, sinh năm 1984 và Bà Hà Thị T2, sinh năm 1988; cùng trú tại: xóm T, xã C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
  2. Bà Quách Thị V1, sinh năm 1981. Trú tại: Thôn H, xã V, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
  3. Ông Lăng Văn T, sinh năm 1982 và bà Triệu Thị B, sinh năm 1981; Cùng trú tại: Thôn N, xã Y, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
  4. Cháu Tẩn Xuân H2, sinh ngày 05/7/2007; trú tại: bản S, xã K, tỉnh Lai Châu. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho cháu H2: Chị Tẩn Xa M1, sinh năm 1996; trú tại: Bản S, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:

Lăng Văn H, Lê Minh V, Xa Khánh D, Vi Thanh T3 và Dương Hữu Quang V2 đều là bạn bè với nhau, làm ở khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/5/2025, V đang trọ tại khu G, phường P, tỉnh Bắc Ninh và D đang trọ tại khu S, phường N, tỉnh Bắc Ninh nhắn tin, nói chuyện với nhau qua ứng dụng Messenger rồi cùng rủ nhau đi xe mô tô ra khu công nghiệp Q và một số tuyến phố trên địa bàn các phường thành phố Bắc Ninh (cũ) và thị xã Q (cũ) xem có nhóm thanh niên nào lạ mặt, sẽ đe dọa và đuổi đánh. Khi đi, V cầm theo 01 “ná cao su” bắn đạn bi sắt rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, không gắn biển kiểm soát (xe của chị Quách Thị V1) đến đón D. Lúc này, D điện thoại qua ứng dụng Messenger rủ H đang trọ tại khu Đ, phường N, tỉnh Bắc Ninh cùng tham gia và dặn H cầm theo “ná cao su” bắn đạn bi sắt đi, Hòa đồng Ý và hẹn gặp nhau tại khu S, phường N để cùng đi. H tiếp tục gọi điện qua ứng dụng M2 rủ T3 đang trọ tại khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh thì T3 đồng ý, H gửi vị trí cho T3 và T3 gọi điện rủ V2 cũng trọ tại khu L, phường N thì V2 đồng ý. V2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, không gắn biển kiểm soát (xe mô tô V2 mượn của 01 người bạn tên là P ở cùng khu trọ nhưng hiện tại không còn ở đó nữa) đến đón T3. Khi đến đón T3 thì V2 thấy Thủy cầm theo 01 túi xách bên trong có đựng vỏ chai bia và 01 con dao mèo. Sau đó, V2 điều khiển xe mô tô chở T3 đến phòng trọ của H ở khu Đ, phường N, tỉnh Bắc Ninh đón H. Tại đây, H mang theo 01 ná cao su và 10 viên bi sắt, V2 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T3, H đến gặp V và D.

Sau đó, các đối tượng gặp nhau tại khu vực S, phường N, tỉnh Bắc Ninh, tại đây các đối tượng điều khiển xe mô tô đi trên đường phố ở phường P, phường N, tỉnh Bắc Ninh gặp nhóm thanh niên lạ mặt sẽ sử dụng ná cao su chiếu laze và đuổi đánh. Lúc này, cả nhóm điều khiển xe mô tô đi nhiều vòng trong khu công nghiệp Q và nhiều tuyến phố ở phường N rồi đi ra Quốc lộ A xuống phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Q, tỉnh Bắc Ninh), V điều khiển chở D ngồi sau cầm theo 01 ná cao su, V2 chở T3 mang theo 05 vỏ chai bia, 01 con dao mèo, dài khoảng 30cm để trong túi xách và H mang theo 01 ná cao su. Xe của D đi trước, xe của V2 đi sau, hai xe đi tốc độ khoảng 80km/giờ, lạng lách, đánh võng, rú ga, nẹt pô từ khu S, phường N qua nhiều các tuyến phố khác nhau. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 06/5/2025, nhóm của V đi đến đoạn đường trước cây xăng H3, thuộc phường Q, tỉnh Bắc Ninh thì thấy anh Tẩn Xuân H2, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng không gắn biển kiểm soát chở theo anh L Quyết Thắng và anh Lý A B1 đang đi hướng ngược chiều từ phường Q lên phường N. Thấy vậy, H hô hào cả nhóm quay xe đuổi theo xe mô tô của anh H2, quá trình đuổi theo D dùng ná cao su chiếu tia sáng laze, H dùng ná cao su bắn bi sắt về phía xe anh H2, anh H2 điều khiển xe mô tô bỏ chạy đến khu vực đường Đ, khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh thì xe của V2 đuổi kịp. Lúc này, T3 ngồi sau xe của V2 dùng vỏ chai bia ném vào phía xe của anh H2 làm cho anh H2 sợ dừng xe lại và bỏ chạy sang bên đường, anh B1 chạy vào nhà dân gần đó, còn anh T7 tiếp tục lái xe mô tô bỏ chạy. Khi anh H2 đang chạy sang bên đường thì V và D đi xe không chú ý quan sát, không giảm được tốc độ nên đã va chạm vào anh H2 làm anh H2 ngã ra đường bị thương, V và D cũng ngã xuống đường. Sau đó, V và D đứng dậy dựng xe dắt đi, Thủy cầm vỏ chai bia ném vào phía anh H2, rồi V cùng cả nhóm rời khỏi hiện trường. T7 quay lại đưa anh H2 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, đến ngày 16/5/2025 thì ra viện.

Ngày 06/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với V, D và H; còn T3, V2 bỏ trốn, đến ngày 18/9/2025 cả hai ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 06/5/2025, Lê Minh V tự nguyện giao nộp: 01 ná cao su, dạng ná V10 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xám đen bạc, không biển kiểm soát. Lăng Văn H tự nguyện giao nộp 01 ná cao su, dạng ná V10.

Về thương tích và các Kết luận giám định;

  • - Về thương tích: Tình trạng thương tích của anh Tẩn Xuân H2: Tụ máu màng cứng vùng trán 2 bên, đụng dập não vùng trán phải, tụ máu cạnh liền đại não, vỡ phức tạp xương trán lan vào xoang trán, lan xuống xương sàng, xoang bướm, lan vào thành trong hốc mắt 2 bên. Gãy vách ngăn mũi, khí nội sọ, tụ dịch đa xoang, tụ máu phần mềm dưới da vùng trán.
  • Ngày 20/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh B giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành thương tích của anh Tẩn Xuân H2. Tuy nhiên, anh H2 từ chối giám định, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định dẫn giải nhưng anh H2 vẫn cương quyết từ chối đi giám định.
  • - Về kết luận giám định:
  • Ngày 26/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định: 02 ná cao su bằng kim loại, màu đen xanh, chuôi bằng nhựa cứng màu đen, kích thước khi rút ngắn dài 75 cm, khi kéo dài 105cm, có dây cao su, đã qua sử dụng.
  • Tại bản Kết luận giám định số: 2689/KL-KTHS ngày 03/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 02 súng nỏ (ná) gửi giám định thuộc phụ lục 3 “danh mục vũ khí thô sơ”, theo Thông tư số 75 ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
  • Ngày 26/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định số khung, số máy của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, không biển kiểm soát, màu xám xi măng, xe đã qua sử dụng.
  • Tại bản Kết luận giám định số 2623/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Số máy, số khung trên xe mô tô gửi giám định không bị tẩy xóa, đục lại: Hàng chữ số JK03E-1535035 đóng trên thân máy và hàng chữ số RLHJK0387SY082443 đóng trên khung xe là nguyên thủy.

Với nội dung trên, Cáo trạng số: 04/CT-VKSKV6 ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố các bị cáo Lê Minh V, Lăng Văn H, Xa Khánh D, Vi Thanh T3 và Dương Hữu Quang V2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã quy kết. Các bị cáo trình bày, bản thân các bị cáo không có mâu thuẫn gì với nhóm của Tẩn Xuân H2. Tuy nhiên, do tuổi trẻ nhất thời bồng bột, các bị cáo đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ân hận về hành vi của mình gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Cũng tại phiên tòa hôm nay các ông, bà là người đại diện hợp pháp, giám hộ cho các bị cáo: D và bị cáo T3 đều xác nhận việc điều tra truy tố của các cơ quan tố tụng đối với các bị cáo là đúng người đúng tội đúng quy định pháp luật, các ông bà xác nhận lời trình bày của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay là đúng với diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo; Các ông bà đều thừa nhận: Sau khi sự việc xảy ra, cả 5 bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho cháu H2 thay cho các bị cáo nay các ông bà đều nghị HĐXX xem xét do các bị cáo tuổi đời còn trẻ và cũng do gia đình thiếu sự quan tâm của gia đình, các bị cáo khi phạm tội đang ở tuổi vị thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nên đều đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội chuộc lại lỗi lầm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Minh V, Lăng Văn H, Xa Khánh D, Vi Văn T8 và Dương Hữu Quang V2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt:

  • Bị cáo Lăng Văn H, Lê Minh V mỗi bị cáo từ 26 tháng tù đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 52 tháng đến 56 tháng.
  • Bị cáo Dương Hữu Quang V2 từ 25 tháng tù đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 50 tháng đến 54 tháng.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; Điều 119 Luật tư pháp và người chưa thành niên, Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt: Vi Thanh T3 từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng.

Áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, Trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Lăng Văn H, Lê Minh V, Dương Hữu Quang V2 và Vi Văn T8 nếu các bị cáo không bị giam giữ về một tội nào khác.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, Điều 119 Luật tư pháp và người chưa thành niên; Xử phạt: Xa Khánh D từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng.

  • * Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  • * Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 ná cao su bằng kim loại.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát.

Trợ giúp viên pháp lý Trần Văn T6 bào chữa cho bị cáo T8 trình bày lời bào chữa: Về tội danh và điều luật áp dụng, Trợ giúp viên pháp lý nhất trí với quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bản thân bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo phạm tội lần đầu, có ý thức ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có ý thức tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng múc án nhẹ nhất và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo T8 và người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không tham gia tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Văn H1 bào chữa cho các bị cáo Xa Kháng D1, Lăng Văn H, Dương Hữu Quang V2 nhất trí với quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bản thân các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; gia đình người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Các bị cáo H, D1, V2 và người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không tham gia tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu đối đáp về án phí hình sự sơ thẩm do các bị cáo sinh sống ở vùng kinh tế khó khăn, có bị cáo tuổi vị thành niên nên nhất trí đề nghị hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không tranh luận gì thêm.

Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B; Điều tra viên Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 -Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, Người bào chữa, Người đại diện hợp pháp cho bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/5/2025, tại khu S, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Lê Minh V, Xa Khánh D, Lăng Văn H, Vi Thanh T3 và Dương Hữu Quang V2 cùng rủ nhau đi xe mô tô không gắn biển kiểm soát, mang theo hung khí, V và H mỗi người cầm theo 01 ná cao su (loại ná V10), Thủy cầm theo 01 con dao dạng dao mèo và 05 vỏ chai bia, mục đích đi trên đường xem có thanh niên lạ mặt sẽ đe dọa. V điều khiển xe mô tô Honda Vision chở theo D; V2 điều khiển xe mô tô chở theo T3 và H đi từ khu S, phường N vào trong khu công nghiệp Q đi nhiều vòng, sau đó đi ra Quốc lộ A về phường P, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình di chuyển 02 xe mô tô của V và V2 đi tốc độ khoảng 80km/giờ, nẹt pô, vượt đèn đỏ làm náo loạn trên đường. Khi đi đến đoạn đường trước cây xăng H3 thuộc phường Q, tỉnh Bắc Ninh thì gặp nhóm anh Tẩn Xuân H2 đang đi ngược chiều chở theo anh L Quyết Thắng và anh Lý A B1 thì cả nhóm V quay xe đuổi theo nhóm anh H2; D dùng ná cao su chiếu laze, H dùng ná cao su bắn bi sắt về phía anh H2, T3 ném vỏ chai bia làm cho nhóm anh H2 sợ hãi điều khiển xe mô tô bỏ chạy đến đoạn đường Đ thuộc khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh thì nhóm của V đuổi kịp, anh H2 dừng xe sang đường bị xe của V2 chở theo T3, H va chạm vào người làm cho anh H2 bị thương. Do đó, có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo Lê Minh V, Lăng Văn H, Xa Khánh D, Vi Thanh T3 và Dương Hữu Quang V2 phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6- Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần phải bị xử lý nghiêm bằng luật hình mới đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Trong vụ án, các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều phạm tội mang tích bột phát không có sự câu kết chặt chẽ, cùng nhau thực hiện hành vi; do vậy các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy; các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; Các bị cáo V, H và D tác động đến gia đình, tự nguyện bồi thường cho anh H2 tổng số tiền 42.000.000 đồng (mỗi gia đình 14.000.000 đồng), được anh H2 viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo T3 và V2 đến Cơ quan điều tra đầu thú; Bị cáo D có ông nội là Xa Văn Ổ tham gia cách mạng nhiễm chất độc màu da cam, được nhà nước tặng thưởng Bằng khen trong kháng chiến. Do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo sinh ra ở vùng kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo Vi Thanh T3, Xa Khánh D phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, Điều 12 Chương I và chương VI Luật tư pháp người chưa thành niên để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân sống có ích cho xã hội.

Do áp dụng Điều 65 cho các bị cáo nên các bị cáo đang bị tạm giam cần áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả trả tự do ngay cho các bị tại phiên tòa nếu các bị cáo không bị khởi tố hoặc bị bắt giam về một loại tội khác.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình các bị cáo đã thay các bị cáo bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa hôm nay cháu Tẩn Xuân H2 do chị Tẩn Xa M1 là người đại diện đều có đơn xin xét xử vắng mặt; tuy nhiên đã có lời khai tại Cơ quan điều tra xác định đã nhận được tiền bồi thường và không có bất cứ yêu cầu gì; Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền bố mẹ các bị cáo đã thay mặt các bị cáo bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Tại phiên tòa hôm nay các ông bà đều không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền này; Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận phù hợp nên cần chấp nhận; Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, không biển kiểm soát, màu xám xi măng, xe đã qua sử dụng. Ngày 30/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trả lại bà Quách Thị V1 là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excite, màu đen V2 mượn của anh P, sau khi vụ việc xảy ra V2 trả cho anh P, V2 không biết cụ thể, tên, tuổi, địa chỉ của anh P, Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  • - Đối với những chiếc điện thoại các đối tượng gọi điện rủ nhau đi thực hiện hành vi phạm tội, sau khi phạm tội, các đối tượng đã vứt đi, nhưng không nhớ ở địa điểm, Cơ quan điều tra không thu giữ được. Do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý.
  • - Đối với 02 ná cao su bằng kim loại, màu đen xanh, chuôi bằng nhựa cứng màu đen, kích thước khi rút ngắn dài 75 cm, khi kéo dài 105cm, có dây cao su, đã qua sử dụng. Liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo không có gia trị cần tịch thu tiêu hủy
  • - Đối với 01 con dao (dạng dao mèo) và vỏ chai bia mà T3 mang đi gây rối, quá trình tham gia gây rối T3 đã ném các võ chai bia vào nhóm của anh H2, còn 01 con dao mèo trên đường đi về T3 đã vứt đi (T3 không nhớ địa điểm vứt), Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

Liên quan trong vụ án: Đối với Lê Minh V có hành vi điều khiển xe mô tô va chạm vào anh Tẩn Xuân H2 bị thương, quá trình điều tra vụ án anh H2 từ chối giám định thương tích. Do vậy, chưa đủ căn cứ xử lý V về hành vi cố ý gây thương tích hoặc hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

[6]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo H, D, T3 và bị cáo V2. Bị cáo Lê Minh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo: Lê Minh V, Lăng Văn H, Vi Thanh T3, Dương Hữu Quang V2 và Xa Khánh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, Xử phạt:

    • Bị cáo: Lăng Văn H 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Bị cáo: Lê Minh V 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Bị cáo: Dương Hữu Quang V2 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lăng Văn H, Lê Minh V và Dương Hữu Quang V2.

    Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điển s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; Điều 119 Luật tư pháp và người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi bổ sung năm 2025), Xử phạt:

    • Bị cáo: Vi Thanh Thuỷ 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Bị cáo Xa Khánh D 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Vi Thanh T3.

    Giao bị cáo Lê Minh V cho UBND xã V, tỉnh Thanh Hóa giám sát; Công an Vân Du, tỉnh giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Lăng Văn H cho UBND xã Y, tỉnh Lạng Sơn giám sát; Công an Y, tỉnh Lạng Sơn giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Xa Khánh D cho UBND xã C, tỉnh Phú Thọ giám sát; Công an xã C, tỉnh Phú Thọ giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Vi Văn T8 cho UBND xã T, tỉnh Lạng Sơn giám sát; Công an xã T, tỉnh Lạng Sơn giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Dương Hữu Quang V2 cho UBND xã B, tỉnh Lạng Sơn giám sát; Công an xã B, tỉnh Lạng Sơn giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) ná cao su bằng kim loại màu đen xanh, chuôi bằng nhựa cứng màu đen, kích thước khi rút ngắn dài 75cm, khi kéo dài 105cm, có dây cao su, đã qua sử dụng. (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 04/2026 ngày 23/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Bắc Ninh).
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Minh V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lăng Văn H, Xa Khánh D, Vi Thanh T3, Dương Hữu Quang V2.

  4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Các bị cáo, Người đại diện hợp pháp và Người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 6 - Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 1 - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HSST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 08/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger