|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 27 – 02 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quang Dũng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Ngô Đình Vinh Ông Nguyễn Tiến Thị |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Nguyễn Huy Chính - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: | ông Nguyễn Văn Hoành – Kiểm sát viên |
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Văn N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/02/1979; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá; Lớp: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Không; Bố: Phan Hồng P; Sinh năm 1957 (đã chết); Mẹ: Thân Thị T; Sinh năm 1959; Hiện đang cư trú tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Anh em ruột có bốn người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Võ Thị H, sinh năm 1977; Trú tại: Tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Con: 03 đứa, đứa lớn sinh năm 2001, đứa nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, từ ngày 26/11/2024 cho đến nay. (Có mặt)
1. Bị hại:
Anh Nguyễn Tiến P1, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
2. Đại diện hợp pháp cho bị hại
Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 2000; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Võ Thị H, sinh năm: 1977; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trú tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
4. Người làm chứng:
Chị Trương Thị L, sinh năm: 1982; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
Chị Đào Thị D, sinh năm: 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
Anh Cao Văn S, sinh năm: 1990; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 22/9/2024, Phan Văn N có giấy phép lái xe mô tô hạng A1; số: AB 623235, do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 12/02/2007 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38C1-086.56, đi trên đường Q theo hướng từ Bắc vào N để vào thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày khi đi đến Km 551+800 đường Q, nơi có khoảng hở của giải phân cách cố định, có biển báo người đi bộ qua đường và có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên và có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Lúc này ở phần đường bên trái có xe ô tô không rõ biển kiểm soát chạy ngược chiều bật đèn pha nên N bị hạn chế tầm nhìn nhưng N không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục điều khiển xe đi thẳng trên phần đường của mình, khi xe mô tô do N điều khiển đến khoảng hở ở phần đường bên trái ngược chiều, trên vạch kẻ đường dành cho người đi bộ có anh Nguyễn Tiến P1, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đang đi bộ qua đường để sang phần đường bên phải, tính theo chiều xe mô tô Nam chạy. Mặc dù phát hiện có người đi bộ qua đường nhưng Phan Văn N vẫn không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn nên xe mô tô 38C1-086.56 do Phan Văn N điều khiển đã đâm vào người anh Nguyễn Tiến P1 đang đi qua đường, làm cho anh Nguyễn Tiến P1 và xe mô tô ngã xuống mặt đường. Điểm va chạm giữa xe mô tô với anh P1 ở trên làn đường xe cơ giới số 2 (Làn đường sát với làn đường xe thô sơ và người đi bộ) ngay trên vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường phía bên phải. Hậu quả vụ tai nạn làm cho anh Nguyễn Tiến P1 bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H, sau đó chuyển lên cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện V, Hà Nội từ ngày 23/9/2024 đến ngày 15/10/2024 ra viện với tỷ lệ tổn thương cơ thể 72%.
* Kết quả giám định tổn hại sức khỏe:
Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 353/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 13/11/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: anh Nguyễn Tiến P1 có các vết thương: Tụ máu ngoài màng cứng, tụ máu dưới màng cứng và tụ máu nhu mô não thùy trán hai bên, hiện tại còn ổ dịch ngoài màng cứng vùng trán phải kích thước 36x93mm. Tỷ lệ phần trăm TTCT là 16%; Tổn thương nhu mô não kích thước 30cmx53mm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 26%; Khuyết xương sọ vùng trán thái dương phải kích thước 81cmx107mm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31%; Vỡ xương chẩm bên trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%; Sẹo phẩu thuật hình vòng cung vùng trán thái dương phải kích thước lớn, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; Sẹo vết thương vùng chẩm lệch sang trái kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; Gãy cung tiếp gò má bên trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%; Lỗ mở khí quản kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; Gãy 1/3 hai xương cẳng chân phải đang cố định bằng bột, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Áp dụng phương pháp cộng lùi: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Tiến P1 là 72% (Bảy mươi hai phần trăm).
* Kết quả dựng lại khám nghiệm hiện trường:
Sau khi tai nạn xẩy ra người nhà nạn nhân và người dân không báo với cơ quan chức năng để tiến hành khám nghiệm hiện trường. Đến ngày 26/9/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện K mới biết và phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tiến hành khám nghiệm hiện trường. Sau khi cho nhân chứng và những người có mặt tại hiện trường vụ tai nạn đưa phương tiện liên quan tai nạn đến hiện trường để xe mô tô lại như vị trí ban đầu thì hiện trường phản ánh: Vụ tai nạn xảy ra ở đường Q nơi giao nhau với đường liên xã K, huyện K, tại 551+800 đường Q, thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, giữa xe mô tô biển kiểm soát 38C1- 086.56 với người đi bộ qua đường. Mặt đường Quốc Lộ 1A được rải nhựa bằng phẳng và chia thành hai phần đường, ở giữa có giải phân cách cứng cố định và có khoảng hở để dành cho người và phương tiện qua lại. Phần đường bên phải theo hướng xe mô tô 38C1-086.56 chạy có tầm nhìn tốt, rộng 9,0m, được kẻ vạch phân cách thành ba làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,50m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m. Phần đường bên phải tính theo chiều xe mô tô 38C-086.56 chạy có 01 biển báo chỉ dẫn giao nhau với đường không ưu tiên, 01 biển báo chỉ dẫn người đi bộ qua đường. Khoảng hở của giải phân cách cố định rộng 24,7m.
- Đánh số thứ tự các dấu vết: (1) Vị trí người đi bộ; (2) Vị trí người đi bộ sau khi va chạm với xe mô tô bị ngã; (3) Vị trí xe mô tô ngã; (4) vị trí người điều khiển xe mô tô ngã.
- Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km 551 của đường Quốc lộ 1A theo chiều B vào N làm điểm mốc và lấy mép đường Q phía bên phải làm điểm chuẩn, tất cả đều tính theo hướng từ Bắc vào N, các dấu vết để lại hiện trường như sau:
- Mô tả dấu vết hiện trường: Cách cột mốc Km 551 về hướng Nam 43,7m là vị trí va chạm giữa xe mô tô và người đi bộ nằm ngay trên vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường (1), tâm vị trí va chạm cách mép đường nhựa bên phải 3,47m; Cách vị trí va chạm giữa xe mô tô và người đi bộ về hướng Nam 9,2m là bị hại Nguyễn Tiến P1 (2) ngã nằm úp ngay mép đường nhựa bên phải; Cách vị trí bị hại nằm về hướng Bắc 9,05m là xe mô tô biển kiểm soát 38C-086.56 (3) ngã trên mặt đường, trục bánh sau nằm trên mép đường nhựa bên phải, trục bánh trước cách mép đường nhựa bên phải 0,9m; người điều khiển xe mô tô Phan Văn N (4) ngã nằm ngay vị trí xe mô tô biển kiểm soát 38C1-086.56.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện phản ánh:
+ Tại biên bản khám xe mô tô biển kiểm soát 38C1-086.56 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:
Ốp tay lái phía trước bên trái bị mài trượt nhựa, kích thước 19cmx08cm, chiều hướng từ phải qua trái; Phần bên trái đèn chiếu sáng bị mài trượt nhựa, kích thước 14cmx09cm, chiều hướng từ phải sáng trái; Mặt nạ, đèn xi nhan phía trước hai bên bị gãy bung rời các chốt định vị; Phần bên phải mặt nạ phía trước bị nứt vỡ nhựa kích thước 10cmx0,3cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 86cm; Đèn xi nhan phía trước bên phải bị nứt vỡ nhựa, kích thước 36cmx08cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 80cm; Cánh yếm bên phải bị bung rời các chốt cố định, trên bề mặt có dấu vết nứt vỡ, kích thước 39cmx24cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 75cm; Cánh yếm bên trái bị bung rời các chốt định vị, trên bề mặt bị mài trượt nhựa kích thước 30cmx16cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 76cm; Gương chiếu hậu phía trước bên phải bị gãy bung rời khỏi phương tiện; Đầu mút tay lái bên trái bị trượt xước, móp lõm kim loại, kích thước 3,5cmx0,5cm; Giá để chân phía trước bên trái bị cong gập theo chiều hướng từ trước ra sau đầu mút bị mài trượt kim loại, cao su kích thước 4x2cm; Ốp sườn thân xe bên trái bị mài trượt nhựa kích thước 15x3cm; Đầu mút giá để chân phía sau bên trái bị mài trượt kim loại kích thước 2,5x1,5cm; Phần bên trái tay nâng phía sau yên xe bị mài trượt kim loại, kích thước 08cmx1,5cm.
* Kết quả giám định dấu vết trên phương tiện:
Tại bản kết luận giám định số 1199/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Các dấu vết mài trượt, gãy, vỡ, móp lõm tại đầu mút tay lái bên trái, phần bên trái ốp phía trước tay lái, góc bên trái đèn chiếu sáng, mặt nạ, cánh yếm bên trái, giá để chân phía trước bên trái, ốp sườn bên trái, phần bên trái tay nâng xe mô tô mang biển kiểm soát 38C1-086.56 được hình thành do va chạm với mặt đường khi xảy ra tai nạn. Các dấu vết nứt, vỡ, bung rời các chốt định vị tại đèn xi nhan phía trước bên phải, cách yếm bên phải được hình thành do va chạm với vật mềm trên diện rộng (dạng cơ thể người) tạo ra.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy:
Sau khi tai nạn xẩy ra người nhà nạn nhân và người dân không báo với cơ quan chức năng biết. Đến ngày 26/9/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện K mới biết, nên không tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn và xác định tình trạng nghiện ma túy của bị can Phan Văn N. Quá trình điều tra đã làm rõ, trước trong khi xẩy ra tai nạn Phan Văn N không sử dụng bia, rượu chất kích thích khác.
* Về vật chứng:
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý gồm:
- Một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 38C1- 086.56, màu vàng, số khung 022981, số máy 5340062, đã qua sử dụng, thu của Phan Văn N, hiện nay đã trả cho chủ sỡ hữu Võ Thị H (Vợ của N).
- Một giấy phép lái xe mô tô số: AB 623235, Hạng A1, do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 12/02/2007 mang tên Phan Văn N đã chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi tai nạn xảy ra, Phan Văn N và bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại (do anh Nguyễn Tiến T2 con trai làm đại diện) đã thỏa thuận bồi thường tổng số tiền 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng), nay bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-KA ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phan Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn N từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Hình phạt bổ sung: Không; Về vật chứng: Đề nghị trả lại 01 Giấy phép lái xe cho bị cáo N
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 22/9/2024, Phan Văn N có giấy phép lái xe mô tô hợp lệ, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38C1-086.56 chạy trên đường Q, theo hướng từ Bắc vào N, khi đi đến Km 551+800 đường Q (Nơi có khoảng hở của giải phân cách cố định, có biển báo người đi bộ qua đường, có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên và có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường) thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do không giảm tốc độ, nhường đường để đảm bảo an toàn khi có người đi bộ qua đường, nên đã đâm vào người anh Nguyễn Tiến P1 đang đi bộ qua đường trên vạch kẻ đường dành cho người đi bộ. Hậu quả làm anh Nguyễn Tiến P1 bị thương tổn hại sức khoẻ 72%. Hành vi của Phan Văn N đã vi phạm khoản 4, Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 6, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm và gây tổn hại đến sức khoẻ của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây búc xúc trong quần chúng nhân dân. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp và có căn cứ.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. HĐXX xét thấy bị cáo chỉ có Giấy phép lái xe hạng A1 và không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Phan Văn N và bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại (do anh Nguyễn Tiến T2 con trai anh P1 làm đại diện) đã thỏa thuận bồi thường tổng số tiền 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng), nay bị hại đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm. HĐXX xét xử sự thoả thuận này không trái luật cũng không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
[6] Về vật chứng: Một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 38C1- 086.56, màu vàng, số khung 022981, số máy 5340062, đã qua sử dụng, thu của Phan Văn N, hiện nay đã trả cho chủ sỡ hữu Võ Thị H (Vợ của N) là có căn cứ.
- Một giấy phép lái xe mô tô số: AB 623235, Hạng A1, do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 12/02/2007 mang tên Phan Văn N, nay trả lại cho bị cáo Phan Văn N, theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Xét luận tội của Viện kiểm sát và mức đề nghị hình phạt là có căn cứ và đúng pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, Khoản 1, Điều 3; khoản 1, Điều 21, Điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3 khoản 1, Điều 21, Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về Tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Phan Văn N 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/02/2025)
Giao bị cáo Phan Văn N cho gia đình và UBND thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Về vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Phan Văn N 01 Giấy phép lái xe số: AB 623235, Hạng A1, do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 12/02/2007 mang tên Phan Văn N
Về án phí:
Buộc bị cáo Phan Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, đại diện cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Dũng |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Phan Văn Nam 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
