|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 17 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Minh Chiến – Cán bộ hưu trí phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định;
Ông Trần Công Mạnh – Giáo viên Công tác tại Trung tâm Chính trị thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với:
-
Bị cáo: Trần Ngọc P sinh ngày 29 tháng 8 năm 2008 tại huyện P, tỉnh Bình Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Trần Mộng L sinh năm 1976 và bà Trần Thị Lệ H sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
-
Bị hại: Võ Đình N sinh ngày 17/5/2009 (chết);
-
Người đại diện hợp pháp cho bị hại Võ Đình N: Bà Võ Thị Kim N1 sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
-
Người giám hộ cho bị cáo Trần Ngọc P: Bà Trần Thị Lệ H sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, là mẹ của bị cáo, có mặt;
-
Người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc P: Bà Trịnh Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý Công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt;
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Lệ H sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, có mặt;
-
Người làm chứng:
-
Anh Nguyễn Văn T sinh ngày 06/5/2007; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, có mặt;
-
Anh Nguyễn Thành L1 sinh ngày 31/01/2009; nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, có mặt.
-
-
Người giám hộ cho người làm chứng:
-
Ông Nguyễn Văn H2; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định là cha của anh Nguyễn Văn T là người giám hộ cho Nguyễn Văn T, vắng mặt;
-
Ông Nguyễn Thanh T1 sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định là cha của Nguyễn Thành L1 đồng thời là người giám hộ cho Nguyễn Thành L1, có mặt.
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, Trần Ngọc P xin phép ba Trần Thị Lệ H (là mẹ của P) mượn xe mô tô biển kiểm soát 77E1-472.76 có dung tích xi lanh 108,2cm² (do ông Trần Mộng L, sinh năm 1976; ở thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định – là cha của P đứng tên chủ sở hữu) để đi chơi với bạn thì được bà H đồng ý và giao xe cho P. Sau đó, P điều khiển xe mô tô trên chở Nguyễn Thành L1 sinh ngày 31/01/2009, ở thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định đi chơi. Quá trình dạo chơi, P và L1 gặp Võ Đình N sinh ngày 17/5/2009 ở thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định nên rủ N cùng đến trước cổng sân bay P ngồi chơi, nói chuyện. Tại đây, N xin đến nhà P ngủ nhờ thì P đồng ý. Sau đó, P đồng ý cho L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77E1-472.76 chở P ngồi giữa và N ngồi sau cùng. L1 điều khiển xe mô tô trên lưu thông trên Quốc lộc 19B theo hướng Tây – Đ, khi đến đoạn đường thuộc khu vực C, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định do không làm chủ tốc độ và tay lái nên để xe mô tô do L1 điều khiển chở N và P lao xuống ruộng bên phải đường. Hậu quả N tử vong.
Bản kết luận giám định tử thi số 315/KLGĐTT-PYBĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của Võ Đình N là do chấn thương gây gãy cột sống cổ, vỡ tạng đặc – đa chất thương điều trị không hồi phục.
Về dân sự: Quá trình điều tra, bị can Trần Ngọc P đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000đ, được đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
- Vật chứng: Xe mô tô biển kiểm soát 77E1-472.76; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 77E1-472.76, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý hoàn trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSAN ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Trần Ngọc P về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc P từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo
- Về trách nhiệm dân sự: Những người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, không có yêu cầu nên miễn xét.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc P trình bày luận cứ: Bị cáo Trần Ngọc P còn tuổi chưa thành niên vì chưa nhận thức pháp luật chưa đầy đủ về tính chấp pháp lý khi điều khiển xe mô tô cũng như để cho L1 điều khiển xe mô tô, hành vi của bị cáo lỗi vô ý, đã được khắc phục hậu quả có đơn bãi nại bà xin giảm nhẹ hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo thần khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có ông nội là người có công cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt nên xử phạt bị cáo 06 tháng cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng, tỏ ra ăn hăn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện bị hại không có ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên Tòa bị cáo khai nhận hành vi: Chiều tối ngày 10/10/2024, bị cáo Trần Ngọc P xin phép mẹ ruột của mình là bà Trần Thị Lệ H mượn xe mô tô biển kiểm soát 77E1-472.76 có dung tích xi lanh 108,2cm³ đi chơi với bạn. Bị cáo P điều khiển xe mô tô từ xã C, huyện P chở Nguyễn Thành L1 đi dạo chơi. Quá trình dạo chơi gặp Võ Đình N nên rủ N cùng đi và N xin đến nhà bị cáo P ngủ nhờ thì P đồng ý. Sau đó, bị cáo P đồng ý để cho L1 điều khiển xe mô tô đã mượn của mẹ chở P ngồi ở giữa và N ngồi sau cùng. L1 điều khiển xe mô tô lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng Tây – Đ, khi đến đoạn đường thuộc khu vực C, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định do không làm chủ tốc độ và tay lái nên để xe mô tô do L1 điều khiển chở N và P lao xuống ruộng bên phải đường. Hậu quả N tử vong.
[3] Xét hành vi của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Ngọc P mặc dù còn ở tuổi chưa thành niên, nhưng thời điểm bị cáo P giao xe mô tô có dung tích xi lanh 108,2cm³ cho Nguyễn Thành L1 là người chưa đủ 16 tuổi chưa có giấy phép lái xe theo quy định lúc đó bị cáo P 16 tuổi 01 tháng 11 ngày. Bị cáo có đủ năng lực hành vi nhận thức được xe mô tô mà bị cáo P đã giao cho L1 điều khiển tham gia giao thông đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, đã gây tai nạn làm chết Võ Đình N là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Ngọc P phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp “Làm chết người” theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Trần Ngọc P là đã giao xe mô tô cho Nguyễn Thành L1 là người chưa đủ điều kiện để điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, gây ra hậu quả chết một người làm cho tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ gia tăng phức tạp, với mức độ gia tăng người chưa đủ thành niên lái xe mô tô tham gia giao thông gây ra hậu quả đau lòng. Vì vậy, để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho mọi người và nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân phải chấp hành quy định của pháp luật mà phán quyết bị cáo một hình phạt tương xứng với tích chất và hành bị phạm tội của bị cáo.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Bị cáo Trần Ngọc P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Ngọc P có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, có người thân là người có công với cách mạng quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo dưới 18 tuổi nên áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để răn đe giáo dục bị cáo; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Ngọc P vì bị cáo là người dưới 18 tuổi.
[6] Đối với Nguyễn Thành L1 không có giấy phép lái xe có hành vi điều khiển xe mô tô 77E1-472.76 điều khiển gây tai nạn làm chết người. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành chưa đủ 16 tuổi nên không phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã chuyển đến Cơ quan chức năng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với bà Trần Thị Lệ H biết bị cáo Trần Ngọc P không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ nhưng giao xe mô tô 77E1-472.76 cho P điều khiển nhưng không biết việc P giao xe lại cho Nguyễn Thành L1 điều khiển gây tai nạn làm chết người. Do đó, Cơ quan chức năng ra quyết định xử lý hành vi đối với bà H là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người giám hộ bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, có đơn bãi nại không có yêu cầu gì nên miễn xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển kiểm soát 77E1-472.76 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý hoàn trả lại cho chủ sở hữu xong.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Trần Ngọc P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 100 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
-
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc P phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
-
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc P 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P, tỉnh Bình Định nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần Ngọc P cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Ngọc P.
-
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người giám hộ bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, có đơn bãi nại không có yêu cầu gì nên miễn xét.
-
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Ngọc P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Quang |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Phú can tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
