Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 03 - 02- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên toà:

Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai phiên toà rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST - HS ngày 27/01/2025 đối với Bị cáo: Hà Văn T, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2001 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 26/9/2022. Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nơi cư trú: Thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Hà Văn K, sinh năm 1959; Mẹ: Nguyễn Thị T1(đã chết); Gia đình có 08 anh em, Bị cáo là con thứ 8; Chưa có vợ con; Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạ giam từ ngày 01/01/2025 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1969. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn G xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Trường N, sinh năm 1983. Vắng mặt
  2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1987. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Thôn G xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07h ngày 01/01/2025 Hà Văn T đi chơi ở thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đến khoảng 08h cùng ngày T đi bộ về nhà. Trên đường về T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến thôn G xã X, huyện T thì T quan sát thấy nhà bà Phạm Thị X không khoá cửa cổng và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe biển kiểm soát 36D1- 646.81 để ở sân nhà, chìa khoá cắm ở ổ khoá. T đứng ngoài quan sát không thấy có ai ở xung quanh thì lén lút đi vào sân rồi dắt xe nổ máy bỏ đi. Lúc này anh Nguyễn Trường N ở đối diện nhà bà X phát hiện T trộm cắp tài sản nên điều khiển xe mô tô cá nhân truy đuổi. Quá trình truy đuổi anh N hô hoán, báo Công an xã X cùng truy đuổi. Khi T điều khiển xe đến khu vực cầu H thuộc địa phận thôn B xã X, huyện T thì Công an xã X đuổi kịp, khống chế, bắt giữ và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật theo quy định.

Ngày 02/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 12/YC-ĐCSHS để xác định giá trị của chiếc xe mô tô tại thời điểm bị chiếm đoạt.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL - HĐĐG ngày 03/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe, màu sơn xanh, đen, bạc, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36D1- 646.81 tại thời điểm bị trộm cắp có giá trị 10.500.000đ;

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe biển kiểm soát 36D1- 646.81 cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị X

Vật chứng của vụ án gồm: 01 áo nỉ mũ sọc ca rô, ô vuông màu đen, vàng, trắng đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen, đã qua sử dụng, hiện đang quản lý theo quy định pháp luật.

Về phần Dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ - VKSTX ngày 16/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo Hà Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 65; Điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 điều 106; Khoản 1 điều 331; Khoản 1 điều 333; Khoản 2 điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Hà Văn T từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 (mười bốn) tháng đến 18(mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo; Buộc Bị cáo phải phải chịu án phí HSST là 200.000đ. Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 áo nỉ mũ sọc ca rô ô vuông màu đen, vàng, trắng đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen, đã qua sử dụng. Bị cáo và Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà Bị cáo Hà Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Bị cáo, Bị hại trong quá trình điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản thu giữ tang vật, lời khai của người làm chứng đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào ngày 01/01/2025 Bị cáo Hà Văn T đã có hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe biển kiểm soát 36D1- 646.81, màu sơn xanh, đen, bạc trị giá 10.500.000đ của bà Phạm Thị X. Do đó hành vi của Bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”.

Vì vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận Bị cáo Hà Văn T phạm tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ - VKSTX ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo Hà Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3]. Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật Nhà nước bảo vệ. Hành vi đó đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là thanh niên nhưng lười lao động, không chịu khó làm ăn, tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ tài sản trên công sức lao động của người khác. Bị cáo đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người Bị hại. Điều đó chứng tỏ rằng Bị cáo rất coi thường pháp luật.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Bị cáo: Khi xem xét về nhân thân của Bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Bị cáo khai báo thành khẩn; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly xã hội đối với Bị cáo mà áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho Bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

[ 7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo nỉ mũ sọc ca rô ô vuông màu đen, vàng, trắng đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen đều là vật không còn giá trị và không sử dụng được nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 65 BLHS;

- Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Bị cáo Hà Văn T cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo nỉ mũ sọc ca rô ô vuông màu đen, vàng, trắng đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu đen đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 18 ngày 17/01/2025 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự Công an huyện Thọ Xuân
  • - UBND xã Xuân Sinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 03/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tám trộm cắp xe máy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger