Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HSST

Ngày: 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mỹ Dung;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Minh; ông Nguyễn Đăng Đúng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 2 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Nguyễn Phi H, sinh ngày 21/02/2008, tại tỉnh Phú Yên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Học sinh; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tấn C, sinh năm 1979; con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phạm Tấn C, sinh năm 1979; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Ông C có mặt, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Lương Anh T – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. Có đơn xin xét xử vắng mặt

* Bị hại: Đỗ Thị Phương H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh ngày 14/4/2008. Đại diện hợp pháp của T1: Ông Nguyễn S, sinh năm 1984. Đồng trú tại: Thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. T1, S có mặt

2. Lê Văn N1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người làm chứng: Bùi Minh Đ, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 03/11/2024, Phạm Nguyễn Phi H, sinh ngày 21/2/2008 (16 tuổi 8 tháng 13 ngày), trú tại Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên và Nguyễn Hoàng Anh T1, sinh năm 2008, trú tại Thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên đến Quán C1 thuộc Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên để uống nước. Khi lên đến tầng 2 của quán, H quan sát thấy 02 phòng ngủ của quán X không khóa nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. H cùng T1 lên tầng 3 của quán để uống nước. Đến khoảng 11 giờ 25 phút cùng ngày, H nói với T1 là muốn đi vệ sinh nên một mình xuống tầng 2, thấy không có ai trông coi nên lén lút đi vào phòng ngủ rồi lục tìm trong túi xách màu đen móc sau tủ đựng quần áo lấy số tiền 45.000.000 đồng, H tiếp tục đi qua phòng ngủ bên cạnh lục tủ quần áo lấy số tiền 6.000.000 đồng trong bao lì xì màu đỏ. Sau khi lấy trộm tiền xong, H vào nhà vệ sinh đếm tất cả số tiền lấy được là 51.000.000 đồng và cất giấu vào trong quần lót rồi ra quay lại bàn uống nước, H nói dối với T1 là mẹ H điện thoại gọi H về nên nhờ T1 điều khiển xe chở H về. Khi về đến nhà, H cất số tiền 51.000.000 đồng đã trộm được vào phòng ngủ rồi cùng T1 đến tiệm xăm Hùng T2 ở Khu phố B, phường H để xăm. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, do thấy được việc trộm cắp là sai nên H đã tự nguyện đem số tiền 51.000.000 đồng đến quán C1 trả lại chủ sở hữu là chị Đỗ Thị Phương H1, sinh năm 1978, trú tại Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Đến ngày 05/11/2024, H đến Công an phường H để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng vụ án: 01 (một) áo thun cổ tròn, ngắn tay sọc caro màu nâu, vàng, đỏ, trắng, đen bên trong có tem nhãn Bubery; 01 (một) quần dài thun màu đen, phần thắt lưng sọc caro màu nâu vàng, đỏ, trắng, đen bên trong có tem nhãn Bubery; 79 tờ tiền 500.000 đồng; 18 tờ tiền 200.000 đồng; 49 tờ tiền 100.000 đồng và 60 tờ tiền 50.000 đồng (tất cả đã trả cho chủ sở hữu); 01 (một) đĩa CD màu trắng, dung lượng 700MB, trên mặt đĩa có dòng chữ “idea Life For Each M” (kèm theo hồ sơ).

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSĐH ngày 12/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Phạm Nguyễn Phi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đại diện hợp pháp của bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ở địa phương để tiếp tục việc học tập.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không yêu cầu gì.

Người bào chữa cho bị cáo gửi bản luận cứ bào chữa: Thống nhất với tội danh truy tố bị cáo về Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 90, 91, 100 để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng số 09/CT-VKSĐH ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Nguyễn Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Đ1 c Khoản 2 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Phạm Nguyễn Phi H từ một năm ba tháng đến một năm sáu tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách hai năm sáu tháng đến ba năm; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, do đó áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 6, 8 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 hướng dẫn về việc xét xử vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi. Xét thấy với thành phần Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân là giáo viên công tác tại Trường THCS T3, Đ và đại diện cha, mẹ bị cáo tham gia tố tụng do đó đảm bảo đủ điều kiện cho việc tiến hành xét xử đối với bị cáo Phạm Nguyễn Phi H.

Đối với việc vắng mặt của người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Trong quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng, đồng thời tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Nhận thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Nguyễn Phi H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng trong vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 25 phút, ngày 03/11/2024, tại quán C1, Phạm Nguyễn Phi H đã có hành vi lén lút trộm số tiền mặt 51.000.000 đồng (năm mươi mốt triệu đồng), gồm 79 tờ tiền 500.000 đồng; 18 tờ tiền 200.000 đồng; 49 tờ tiền 100.000 đồng và 60 tờ tiền 50.000 đồng) của chị Đỗ Thị Phương H1, sinh năm 1978, trú tại Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Hành vi, ý thức của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Nguyễn Phi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân mà bất chấp hậu quả, lợi dụng sự sơ hở của người bị hại lén lút lấy trộm tài sản. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội khi chỉ 16 tuổi 08 tháng, còn là học sinh đang theo học lớp 11 tại Trường THPT N2; bị cáo có nhân thân tốt. Sau khi bị phát hiện đã tự nguyện đầu thú, khắc phục hậu quả, trả đủ số tiền đã trộm cắp cho người bị hại, được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để cân nhắc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Ngoài ra, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91 về nguyên tắc xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 để áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

[2.4] Khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, hiện đang là học sinh, có nơi cư trú ổn định, phạm tội khi chưa thành niên nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về địa phương nơi bị cáo cư trú cùng gia đình giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được trả cho chủ sở hữu. Người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Vật chứng đã được trả về cho chủ sở hữu nên không xem xét. Lưu theo hồ sơ vụ án một đĩa CD màu trắng trích xuất nội dung dữ liệu camera.

[6] Đối với Nguyễn Hoàng Anh T1 không biết việc bị cáo H lấy trộm tài sản của người khác nên hành vi không cấu thành tội phạm.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Nguyễn Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng Đ1 c Khoản 2 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Điều 65; Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự;

    Phạt: Bị cáo Phạm Nguyễn Phi H – 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là hai năm sáu tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Đ, Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Phạm Nguyễn Phi H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án

Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Công an thị xã Đ;
  • - Chi cục THADS thị xã Đ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - Ngừơi tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu AV, HS.

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đoàn Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 08/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger