|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HSPT
Ngày: 13- 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tư
Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Kiến Toàn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Vĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 150/2024/TLPT-HS ngày 24/10/2024 đối với bị cáo Hồ Thị Kim X. Do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn M, đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Bị cáo bị kháng cáo:
Bị cáo Hồ Thị Kim X, sinh năm 1975 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện tại: Số I, khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H và bà Nguyễn Kim L; chồng Nguyễn Thành L1, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền sự, tiền án: không. Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Trần Lê Thùy T, sinh năm 1979; (có đơn xin xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Số D khóm A, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Bùi Văn K, sinh năm 1992 (theo văn bản ủy quyền ngày 29/8/2024).
Nơi cư trú: Số A, đường B, khóm B, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1974. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của ông Nguyễn Văn M: bà Lê Thị M1 – luật sư của Văn phòng luật sư Lê Anh T1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/5/2023, bà Trần Lê Thùy T đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V để tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản đối với ông Nguyễn Văn M. Nội dung đơn bà T trình bày: ngày 20/8/2022, ông M là bạn quen biết với bà và chồng bà là ông Hoàng Quốc N, liên lạc qua điện thoại nói về trường hợp của ông Nguyễn Văn V, có nhu cầu vay tiền 200.000.000 đồng bằng hình thức thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời gian vay là 03 ngày, M nhờ bà T cho ông V vay, T nói không có tiền để cho vay, lúc sau thì N gọi điện cho T nói cho V vay theo yêu cầu của M (M gọi điện cho N để yêu cầu N và T giúp cho V vay tiền). T đồng ý cho V vay số tiền trên theo yêu cầu của M; sau đó, M hẹn gặp T vào chiều ngày 20/8/2022 tại quán cà phê Phương T2 địa chỉ phường A, thành phố V, để gặp V làm thủ tục cho vay và giao tiền cho ông V.
Sau đó, bà T mang số tiền 180.000.000 đồng đến gặp M và V tại quán C. Tại đây T chỉ gặp M, T hỏi ông Vĩnh Đ thì M nói ông V có việc vừa đi trước, M nhận tiền thay, nếu V không trả thì M chịu trách nhiệm trả số tiền đó. Do tin tưởng lời cam kết của M, nên T giao cho M số tiền 180.000.000 đồng và nhận từ M 01 giấy biên nhận mượn tiền viết tay đứng tên ông V, kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành N047323, số vào sổ cấp 41708 mang tên ông Nguyễn Văn V có diện tích là 16.620m². Khi xem biên nhận chỉ ghi thời hạn 03 ngày sẽ trả, nhưng không ghi thời gian trả cụ thể là ngày nào, nên T yêu cầu M viết thời gian trả trên giấy biên nhận, M viết “ngài 23,8.2022” là ngày trả; đồng thời, M cũng ký tên lăn tay để làm chứng về việc vay mượn của V. Đến thời hạn 03 ngày T liên hệ với ông M, để yêu cầu V trả tiền vay thì ông M nói số tiền trên đã đưa cho Hồ Thị Kim X, khi biết sự việc thì T có liên hệ gặp và yêu cầu X trả tiền, X hứa hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện, nên T tố cáo sự việc đến Cơ quan điều tra và cung cấp giấy biên nhận mượn tiền đứng tên ông V, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành N047323, hợp đồng ủy quyền số 6820; hợp đồng chuyển nhượng chỉ có chữ ký của Hồ Thị Kim X và kèm theo 01 địa CD có nội dung ghi nhận quá trình trao đổi giữa M và ông N, về việc M thừa nhận đã đưa cho X toàn bộ số tiền chiếm đoạt trên.
Kết quả điều tra xác định: tháng 7/2021, Hồ Thị Kim X cho ông Nguyễn Văn V vay số tiền là 1.000.000.000 đồng, bằng hình thức thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 047323 mang tên Nguyễn Văn V, lãi suất vay là 02%/ tháng, hai bên lập hợp đồng uỷ quyền với thời hạn là 02 năm (V không thực hiện góp lãi và trả nợ gốc từ thời điểm vay cho đến ngày 20/8/2022). Do X cần tiền để trả nợ, nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà Trần Lê Thùy T, bằng hình thức giả danh ông Nguyễn Văn V, viết giấy biên nhận vay tiền kèm theo việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng 13 giờ 30, ngày 20/8/2022 tại quán C đặt tại phường A, thành phố V, X viết giấy biên nhận đứng tên của ông Nguyễn Văn V vay của bà T số tiền 200.000.000 đồng, rồi nhờ M liên hệ với T để hỏi vay tiền cho V (X không nói rõ cho M biết về việc giả danh ông V), bản thân bị cáo X nhận thức rõ nếu trực tiếp liên hệ gặp T, để yêu cầu vay tiền thì T sẽ không đồng ý, do trước đó X còn nợ nhiều khoản vay chưa trả hết và T chỉ đồng ý cho vay khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp phải đứng tên người vay, X nhờ M nói với T là vay tiền cho ông V bằng hình thức thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông V.
Sau khi viết giấy biên nhận giả danh xong, thì X giao lại giấy biên nhận và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho M, để liên hệ với T còn X thì rời đi nơi khác. Trước đó, X nhờ M giúp mình và đưa ra thông tin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên của ông V do mình cầm cố từ V với giá là 1.000.000.000 đồng và X đảm bảo với M là trong thời hạn 03 ngày sẽ trả lại số tiền vay cho T, khi vay 200.000.000 đồng thì X chấp nhận trừ đi 10% số tiền vay, để thanh toán tiền lãi suất 03 ngày trước cho T.
Do tin tưởng lời hứa hẹn của X và thông tin mà X đưa ra; đồng thời, M không biết được X có ý thức chiếm đoạt tài sản, nên đã đồng ý thực hiện theo yêu cầu của X. Sau đó, M liên hệ với T và N để hỏi cho V vay tiền bằng hình thức thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được sự đồng ý. Do tin tưởng M, nên T đã mang số tiền 180.000.000 đồng đến quán cà phê Phương T2, với dự định gặp V để giao tiền và nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như nêu trên.
Đối với Hồ Thị Kim X: quá trình điều tra cho đến nay đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, mục đích của việc giả danh là làm cho bà T tin tưởng người vay tiền là ông V và đồng ý cho vay, để thuận lợi cho việc vay tiền thì X đã lợi dụng mối quan hệ của M với T và N, để liên hệ hỏi vay tiền cho V, X không bàn bạc gì với M về việc Xuyến giả danh, trước khi nhờ M liên hệ vay tiền thì X đưa ra thông tin về nguồn gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cam đoan hứa hẹn sẽ thực hiện trả trong thời hạn 03 ngày, làm cho M tin tưởng, X không nói cho M biết về ý thức chiếm đoạt số tiền vay từ Trân. Trước khi vay tiền thì X không trao đổi gì với T, không cho T biết là bản thân mượn tiền của T thông qua M. Xuyến thừa nhận việc viết giấy biên nhận là do tự mình thực hiện chứ không ai khác hướng dẫn cho X, khi viết giấy biên nhận thì M chứng kiến sự việc trên. Xuyến thừa nhận đã nhận số tiền 180.000.000đ từ M. Bản thân X nhận thức rõ hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn M qua làm việc và đối chất với bị hại, M thừa nhận như nội dung trên, M có thừa nhận khi T hỏi V đâu, không có V rồi sao thì M nói nếu V không trả thì anh (M) chịu trách nhiệm trả, do M tin tưởng lời hứa hẹn của X là vay tiền trong thời hạn 03 ngày sẽ trả lại; đồng thời, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dùng để thế chấp có nguồn gốc hợp pháp và có giá trị, nên M mới đồng ý giúp X. Do M không vì lời hứa hẹn được nhận lợi ích vật chất mà giúp X, thực tế sau khi nhận số tiền 180.000.000 đồng từ T thì M đã đưa hết số tiền đã nhận cho X tại quán C vào ngày 20/8/2022. Bản thân Mến không hưởng lợi gì từ hành vi chiếm đoạt tài sản của X. Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được chưa đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn M có dấu hiệu đồng phạm với Hồ Thị Kim X thực hiện hành vi phạm tội; tuy nhiên, do bản thân M2 không biết ý định chiếm đoạt tài sản của X, không hưởng lợi gì từ số tiền mà X chiếm đoạt; bản thân Mến nhận thức Xuyến chỉ thực hiện mối quan hệ vay tiền chứ không nhận thức được việc X thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với M2 trong vụ án này.
Bà T trình bày do có quen biết với M2 trong việc mua bán đất đai và M2 có nhân thân, lai lịch rõ ràng, làm ăn thật thà, nên đã tin tưởng lời nói của M2. Trước, trong và sau khi nhận giấy biên nhận, giấy CNQSDĐ từ Mến thì T nhận thức người mượn tiền của mình là ông V, sau khi không nhận được tiền trả thông qua M2 thì bà mới biết X đã giả danh V, rồi thông qua M2 để gian dối nhận số tiền trên. Bà khẳng định đã đưa cho M2 đủ số tiền 200.000.000đ, bà không lấy bất cứ tiền lãi nào hết. Nếu bà biết X giả danh ông V viết giấy biên nhận để vay tiền của bà thì bà sẽ không đồng ý cho vay. Hiện bà yêu cầu bị can Hồ Thị Kim X trả lại cho bà số tiền 200.000.000đ, bà không yêu cầu X phải chịu trách nhiệm về số tiền lãi phát sinh đối với số tiền bị chiếm đoạt trên. Đối với số tiền 20.000.000 đồng chênh lệch không có người chứng kiến, T đưa cho M2 số tiền 200.000.000 đồng, mà chỉ có căn cứ xác định M2 giao cho X số tiền 180.000.000 đồng. Vì vậy X phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền này.
- Vật chứng, tài liệu, đồ vật được Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 0473323 đứng tên Nguyễn Văn V có diện tích 16.620m²; 01 Hợp đồng ủy quyền số 6820; 01 giấy mượn tiền đứng tên Nguyễn Văn V; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa chứng thực, có chữ ký và dấu vân tay mang tên Hồ Thị Kim X; 01 giấy biên nhận ngày 10/9/2022; 01 giấy viết tay có nội dung các khoản tiền X còn thiếu Trân tính đến ngày 10/9/2022, có chữ ký của Hồ Thị Kim X; 01 đĩa CD thể hiện nội dung trao đổi giữa M2 và N.
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trần Lê Thùy T yêu cầu Hồ Thị Kim X và Nguyễn Văn M liên đới trả lại số tiền 200.000.000 đồng, hiện nay bị cáo X không có khả năng bồi thường.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
-
Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Kim X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hồ Thị Kim X 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bắt chấp hành án.
-
Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 463, 466, 468, 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Hồ Thị Kim X và ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho bị hại Trần Lê Thùy T số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng), trong đó nghĩa vụ của bị cáo X có trách nhiệm trả cho bị hại 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng), ông M có trách nhiệm trả cho bị hại 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hồ Thị Kim X phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc ông Nguyễn Văn M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 12/9/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo với nội dung: ông không đồng ý liên đới với bị cáo X về trách nhiệm dân sự và không đồng ý trả số tiền 90.000.000đ cho bị hại Trần Lê Thùy T.
Kiểm sát viên nêu quan điểm giải quyết vụ án: sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo, bị hại không có kháng cáo, Viện kiểm sát 2 cấp không kháng nghị, nên Kiểm sát viên không đề cập đến tội danh, hình phạt và điều luật áp dụng để xử lý đối với bị cáo Hồ Thị Kim X, nên phần trách nhiệm hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Văn M kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại. Ông M kháng cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
Xét kháng cáo của ông M với nội dụng ông M không đồng ý liên đới với bị cáo X để hoàn trả lại tiền cho Trần Lê Thùy T, vì ông chỉ là người môi giới cho bị cáo X vay tiền của T, ông không hưởng lợi gì hết; ông M chỉ hứa bằng lời nói và khi cho vay bị hại T có nhận Giấy chứng nhận QSDĐ có giá trị rất lớn so với số tiền vay, bản thân ông M cũng không hưởng bất cứ lợi ích vật chất nào hết; tại phiên tòa bị cáo X cũng đồng ý hoàn trả đủ số tiền cho bị hại T, nên không cần thiết phải buộc ông M liên đới với bị cáo để hoàn trả tiền cho bà T3.
Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, sửa bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 463, 466, 468, 584, Điều 585, 587 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Hồ Thị Kim X có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị hại Trần Lê Thùy T số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Bị cáo Hồ Thị Kim X trình bày: bị cáo không thể trực tiếp gặp bị hại T để vay tiền, vì bị cáo còn nợ nhiều khoản vay khác; từ đó, bị cáo thông qua nhờ ông M liên hệ với bị hại T vay tiền; bị cáo tự viết biên nhận ông V là người nhận tiền, rồi giao lại cho ông M. Vay số tiền 200.000.000 đồng, nhưng bị cáo đồng ý trừ lại số tiền lãi 20.000.000 đồng. Khi bị hại T giao tiền thì bị cáo không có mặt ở đó. Sau đó, ông M nhận và giao cho bị cáo 180.000.000 đồng. Ông M không có hưởng lợi ích gì trong việc vay tiền nay, nên bị cáo đồng ý chỉ một mình cá nhân bị cáo hoàn trả đủ số tiền 200.000.000 đồng cho bị hại T.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T –bị hại là ông Bùi Văn K trình bày: bị hại Trân xác định cho ông V vay tiền, khi giao tiền không có mặt ông V, nên bà không đồng ý giao tiền, chỉ khi ông M có lời nói cam kết “nếu V không tiền thì Anh (M) sẽ trả tiền”. Có cam kết của ông M nên bị hại T mới giao tiền. Trường hợp, bị cáo X vay thì bị hại T sẽ không cho vay. Do đó, ông đại diện bà T yêu cầu Hội đồng xét xử giữ y án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn M là bà Lê Thị M1 trình bày: thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên về việc, chỉ buộc cá nhân bị cáo X hoàn trả lại tiền cho bị hại T, bởi vì: ông M không có liên quan mà chỉ là người chứng kiến việc bị hại T cho bị cáo X vay tiền được đảm bảo bằng Giấy CNQSDĐ; ông M chỉ cam kết bằng lời nói không có giá trị; ông M không có hưởng bất kỳ lợi ích nào. Bị cáo cũng đồng ý chỉ một mình cá nhân bị cáo hoàn trả đủ số tiền 200.000.000 đồng cho bị hại T. Cuối cùng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông M để sửa án sơ thẩm theo hướng, không buộc ông M liên đới với bị cáo X để hoàn trả tiền cho bị hại T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông M trình bày: ông không đồng ý liên đới với bị cáo X để hoàn trả tiền cho bị hại T, vì ông chỉ giới thiệu cho bị cáo X vay tiền của bị hại T, khi vay có thế chấp Giấy CNQSDĐ của ông V. Ông chỉ cam kết bằng lời nếu V không trả tiền thì ông sẽ trả tiền cho bị hại T. Sau khi nhận 180.000.000 đồng từ bị hại T, ông đã giao hết cho bị cáo X, ông cũng không được hưởng lợi ích gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đồng ý một mình bị cáo hoàn trả số tiền 200.000.000 đồng cho bị hại T.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn M đảm bảo hình thức và thời hạn, đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Thị Kim X trình bày: năm 2022 bị cáo nợ tiền nhiều người, mất khả năng thanh toán nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bị hại Trần Lê Thùy T. Để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo X nhờ ông Nguyễn Văn M liên hệ với bà T để hỏi vay số tiền 200.000.000 đồng, bằng hình thức bị cáo giả danh Vĩnh để thế chấp quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn V. Đến khoảng 13 giờ ngày 20/8/2022, tại quán C đặt tại phường A, thành phố V, bị cáo đã có hành vi gian dối giả chữ ký của ông V để viết biên nhận nợ thế chấp vay của bà Trần Lê Thùy T số tiền 200.000.000 đồng, bị cáo nhờ ông M liên hệ bà T nhận số tiền 200.000.000 đồng do trừ trước 20.000.000 đồng tiền lãi đóng lãi, nên thực tế M chỉ nhận được 180.000.000 đồng. Bị cáo xác định ông M nhận tiền xong giao lại đầy đủ cho bị cáo, bị cáo không có hứa hẹn và thực tế không cho ông M bất cứ lợi ích gì. Nhận tiền xong bị cáo đem đi trả nợ cho nhiều người, hiện nay mất khả năng thanh toán trả nợ số tiền trên cho bị hại T.
Do đó cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hồ Thị Kim X phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tội danh, hình phạt và Điều luật áp dụng đối với bị cáo, thì bị cáo và bị hại không có kháng cáo; đồng thời, Viện kiểm sát 02 cấp cũng không có kháng nghị, nên phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã có hiệu lực pháp luật.
[3] Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn M giữ nguyên kháng cáo. Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn M: về trách nhiệm dân sự, cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo và ông M có nghĩa vụ liên đới trả cho bị hại T số tiền 180.000.000 đồng là có căn cứ. Tuy ông M không được hưởng bất kỳ lợi ích gì từ hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo X, chỉ vì ông tin tưởng lời nói mà giúp bị cáo, nhưng xét về hành vi mà ông M thực hiện cho thấy ông M là người trực tiếp nhận tiền từ bị hại T, ông M có lời nói cam kết với bị hại rằng, nếu ông V không trả nợ thì ông M là người chịu trách nhiệm đối với khoản tiền này. Mặc dù, sau khi nhận tiền từ bị hại, ông M đã giao lại hết số tiền đã nhận cho bị cáo X chiếm đoạt, nhưng ông cũng có một phần lỗi trong việc bị cáo gian dối để lấy tiền của bị hại T, nên ông M cũng phải chịu một phần trách nhiệm trong việc hoàn trả lại số tiền cho bị hại. Do đó, bị hại yêu cầu ông M cùng liên đới theo phần chịu trách nhiệm trả nợ cùng bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn M là có căn cứ để chấp nhận một phần, vì xem xét diễn biến vụ án thì lỗi của ông ít hơn nên trách nhiệm hoàn trả của ông cũng ít hơn bị cáo X.
Tại phiên tòa, bị cáo X tự nguyện hoàn trả cho bị hại Thùy T số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Xét việc tự nguyện của bị cáo là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội, nên được ghi nhận.
[4] Xét đề nghị của kiểm sát viên, của Luật sư có cơ sở nên được chấp nhận một phần như đã nhận định trên.
[5] Về án phí: ông M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận. Do sửa án sơ thẩm về phần trách nhiệm hoàn trả nên điều chỉnh lại án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, để sửa phần bồi thường thiệt hại của Bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
-
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 288, 342,463, 466, 468, 584, Điều 585, Điều 587 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Hồ Thị Kim X và ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ liên đới theo phần để hoàn trả lại cho bị hại Trần Lê Thùy T số tiền 180.000.000 (một trăm tám mười triệu đồng), trong đó nghĩa vụ của bị cáo X có trách nhiệm trả cho bị hại Thùy T số tiền 144.00.000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu đồng), ông M có trách nhiệm trả cho bị hại Thùy T số tiền 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo X, về việc bị cáo X có nghĩa vụ hoàn trả cho bị hại Trần Lê Thùy T số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền trên thì phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự
-
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản 2 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hồ Thị Kim X phải nộp 8.200.000 đồng (tám triệu hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn M phải nộp 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và ông không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Tân |
Bản án số 08/2025/HSPT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về vụ án hình sự về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Số bản án: 08/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
