Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 27 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Minh;
  2. Ông Trần Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Đào Văn C (tên gọi khác: Cọp C), sinh ngày 05/8/2004 tại huyện A. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp B, xã D, huyện A, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T, sinh năm: 1982 và bà Nguyễn Kim P, sinh năm: 1982; gia đình bị cáo: Bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: không có; tạm giữ: từ ngày 01/11/2024 đến ngày 04.11/2024; Tạm giam: Từ ngày 04/11/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Hà Thị H, sinh năm 1965.

Trú tại: Ấp 1, xã E, huyện F, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Bà Phan Thị Ph, sinh năm 1987.

Trú tại: Ấp R, xã H, thành phố Y, Đồng Tháp; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Anh Trần Văn L, sinh năm: 1990.

Trú tại: Khóm 2, phường 3, thành phố Y, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Bà Nguyễn Kim P, sinh năm: 1982.

Trú tại: Ấp B, xã D, huyện A, tỉnh Đồng Tháp, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Hồng N, sinh năm: 1989.

Trú tại: Ấp M, xã H, thành phố Y, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 00 ngày 10/10/2024, Đào Văn C đi bộ từ ấp K, xã G, huyện F, tỉnh Đồng Tháp đến khu vực chợ U thuộc ấp Đ, xã G để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến đầu đường rẽ vào Ủy ban nhân dân xã G, C nhìn thấy trước quán cà phê QB của bà Hà Thị H, sinh năm 1965, cư trú: Ấp 1, xã E, huyện F, có một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số: 66S1-031.XX của bà H đang đậu trước quán cặp đường Quốc lộ 30, chìa khóa được cắm sẵn trong ổ khóa và không có người trông coi. C nảy xin ý định lấy trộm xe nên đi vào trong quán kêu bà H bán ly nước, lợi dụng lúc bà H vào bên trong làm nước, C lên xe nổ máy chạy về hướng thành phố Y đến nhà bà Phan Thị Ph, sinh năm: 1987, cư trú: Ấp R, xã H, thành phố Y, tỉnh Đồng Tháp là mợ của C. C nói đang kẹt tiền nên đề nghị thế chấp xe biển số: 66S1-031.XX với số tiền 3.000.000 đồng, bà Ph hỏi xe của ai C trả lời xe mua lại của người khác có giấy chứng nhận đăng ký nhưng chưa sang tên, bà Ph đồng ý và đưa cho C số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, C thuê nhà trọ ở thành phố Y để ở.

Sau khi phát hiện mất trộm xe bà H trình báo sự việc đến Công an xã G, huyện F. Đến ngày 13/10/2024, C gặp ông Trần Văn L, sinh năm: 1990, cư trú: Khóm 2, phường 3, thành phố Y kêu bán xe biển số: 66S1-031.XX, ông L kêu C đưa đi xem xe nên C dẫn ông L đến nhà bà Ph. Sau khi xem xe ông L đồng ý mua với số tiền: 3.500.000 đồng, có làm giấy tờ mua bán. Sau khi nhận số tiền: 3.500.000 đồng bị cáo C trả cho bà Ph số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó C lẫn trốn ở nhiều nơi.

Đến ngày 01/11/2024, Đào Văn C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện F đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả tác hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đào Văn C từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Về hình phạt bổ sung do bị cáo làm thuê có thu nhập không ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn áp dụng đối với bị cáo; Về vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: đã giải quyết xong, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Bị cáo C thừa nhận hành vi phạm tội nên không tranh luận với Kiểm sát viên.

Bị cáo C nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Bình, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Đào Văn C tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với Kết luận về định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ có cơ sở kết luận: Bị cáo có ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và có quan sát từ trước, lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, bị cáo C nhìn thấy trước quán cà phê QB có xe của bà Hà Thị H còn cắm sẵn chìa khóa trên xe, bị cáo C nảy sinh ý định chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số: 66S1-031.XX giá trị định giá là 8.000.000 đồng; khi thực hiện hành vi, bị cáo đã quan sát thấy không có người quản lý tài sản nên mới lén lút lấy trộm. Như vậy tổng giá trị tài sản mà bị cáo C chiếm đoạt là 8.000.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo C phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan trong án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

[3] Bị cáo là thanh niên đủ sức khỏe để lao động nhưng không muốn lao động nên bị cáo đã cố ý xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác. Hành vi của bị cáo là có ý thức, chuẩn bị từ trước do đã quan sát, lợi dụng sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản. Tuy giá trị của tài sản mà bị cáo trộm có giá trị không lớn, bị cáo đã tự đi đầu thú cho cơ quan pháp luật, mẹ bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho bị cáo và tài sản đã được trao trả cho bị hại. Nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của người dân xung quanh. Do đó, cần phải có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, bị cáo C không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về hình phạt bổ sung: Qua trình bày của bị cáo tại phiên tòa, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hiện nay bị cáo đang đi làm thuê có thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

[5] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa; phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội. về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Hà Thị H đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng-đen, biển số 66S1-031.XX và ông Trần Văn L đã nhận lại số tiền 3.500.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm với bị cáo C.

[7] Đối với việc bà Phan Thị Ph nhận thế chấp xe và ông Trần Văn L mua xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng-đen, biển số 66S1-031.XX của Đào Văn C nhưng không biết tài sản trên do bị cáo C phạm tội mà có nên không xem xét xử lý bà Ph và ông L về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ và xử lý:

  • Lưu hồ sơ 03 đĩa DVD –R nhãn hiệu maxell 120 min/4.7GB có chứa 03 đoạn video ghi lại nội dung vụ việc.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng-đen, biển số 66S1-031.XX số máy: 5C63513071, số khung: RLCS5C630BY513027 đã trả lại cho bà Hà Thị H.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo và người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo luật định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Đào Văn C (Cọp C) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Đào Văn C (Cọp C) – 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày 01/11/2024.

  3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Đào Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/3/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - Phân trại tạm giam KV. Thanh Bình;
  • - THA HS CA huyện Thanh Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Bình;
  • - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (Giang).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Đào Văn C (Cọp C) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Văn C (Cọp C) – 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày 01/11/2024. 3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. 4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Đào Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/3/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger